19:32 ICT Thứ năm, 19/10/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Chân dung văn nghệ

Nguyễn Đức Mậu

Thứ bảy - 20/05/2017 10:41

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu
Sinh ngày 14/01/1948
Quê: xã Nam Điền, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Ông nhập ngũ năm 1966, chiến đấu trong đội hình sư đoàn 312 ở chiến trường Lào. Sau chiến tranh ông làm biên tập viên, rồi đi học trường viết văn Nguyễn Du, khóa I, sau đó làm trưởng ban tại ban thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội, phó chủ tịch hội đồng Thơ - Hội nhà văn Việt Nam. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông thường sử dụng các bút danh Nguyễn Đức Mậu, Hương Hải Hưng, Hà Nam Ninh.
Hiện ông nghỉ hưu với quân hàm đại tá và sống cùng gia đình tại Hà Nội.
 
Tác phẩm chính:
- Thơ người ra trận (in chung cùng Vương Trọng, 1971)
- Cây xanh đất lửa (1973)
- Áo trận (1973)
- Mưa trong rừng cháy (1976)
- Trường ca sư đoàn (Trường ca, 1980)
- Người đi tìm chân trời (Chuyện thơ, 1982)
- Khi bé Hoa ra đời (In chung cùng Hữu Thỉnh, 1984)
- Hoa đỏ nguồn sông (1987)
- Từ hạ vào thu (1992)
- Bão và sau bão (1994)
- Cánh rừng nhiều đom đóm bay (1998)
- Bầy chim màu lá vàng (2004)
- Thơ lục bát (2007)
- Mở bàn tay gặp núi (trường ca, 2008)
- Từ trong lòng cuộc chiến (2010)
- Con đường rừng không quên (Truyện ngắn, 1984)
- Ở phía rừng Lào (Truyện vừa, 1984)
- Tướng và lính (Tiểu thuyết, 1990)
- Chí Phèo mất tích (Tiểu thuyết, 1993)
- Con đường nhiều tơ nhện giăng (Tập truyện ngắn, 2001)
- Niềm say mê ban đầu (Tiểu luận phê bình, 2010)
 
 
Các giải thưởng:
- Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001
- Giải thưởng văn học Asean năm 2001
- 03 giải hội nhà văn (1994, 1996, 1999)
- 03 giải bộ Quốc phòng (1989, 1994, 2004)
- Giải thưởng văn học nghệ thuật của UB toàn quốc liên hiệp VHNT Việt Nam năm 2004
­- Giải thưởng cuộc vận động sáng tác "Vì mầm non XHCN" của Ủy ban thiếu niên nhi đồng TW năm 1980
- Bằng khen của hội đồng giải thưởng văn học sông Mê Kông năm 2012
- Bằng khen của Tổng cục chính trị trong cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết, trường ca về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân năm 2009
- Giải C cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ Quân đội năm 1981
­­- Giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn Nghệ năm 1972-1973
 
 
Một số tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu:
 
Người ngồi trước mộ mình
 
Sau bốn mươi năm báo tử. Ông về
Thấy ảnh mình trên bàn thờ
Thấy ảnh mình trên bia mộ
Có phải ông một thời trai trẻ
Phải ông người trong ảnh ngày xưa?

Bốn mưoi năm
Mẹ cha ông lúc xuôi tay nhắm mắt
Mong nằm cạnh con mình
Mộ ông: chiếc tiểu sành không hài cốt

Ông trở về trước mộ cha, cúi mặt
Trước mộ mẹ khấn thầm
Hình hài vẹo xiêu
Tuổi chiều nắng tắt

Nấm mộ ông đắp bằng nước mắt
Hương khói tỏ mờ mỗi đận thanh minh
Trước bia đá cỏ xanh
Người phế binh dại ngây khuôn mặt

Ông nhẩm nhớ những người đã mất
Một con thuyền trong đêm chiến tranh
Bom rơi đặc trời, máu loang mặt nước
Bao người chết. Chết không tìm thấy xác…

Bao người chết. Chỉ mình ông sống sót
Hơn bốn mươi năm ốm đau, lưu lạc
Người phế binh ngồi trước mộ mình
Sau bốn mươi năm báo tử. Ông về
Thấy ảnh mình trên bàn thờ
Thấy ảnh mình trên bia mộ
Có phải ông một thời trai trẻ
Phải ông người trong ảnh ngày xưa?

Bốn mưoi năm
Mẹ cha ông lúc xuôi tay nhắm mắt
Mong nằm cạnh con mình
Mộ ông: chiếc tiểu sành không hài cốt

Ông trở về trước mộ cha, cúi mặt
Trước mộ mẹ khấn thầm
Hình hài vẹo xiêu
Tuổi chiều nắng tắt

Nấm mộ ông đắp bằng nước mắt
Hương khói tỏ mờ mỗi đận thanh minh
Trước bia đá cỏ xanh
Người phế binh dại ngây khuôn mặt

Ông nhẩm nhớ những người đã mất
Một con thuyền trong đêm chiến tranh
Bom rơi đặc trời, máu loang mặt nước
Bao người chết. Chết không tìm thấy xác…

Bao người chết. Chỉ mình ông sống sót
Hơn bốn mươi năm ốm đau, lưu lạc
Người phế binh ngồi trước mộ mình.
 
 
Người xa lạ
 
Ba mươi năm. Trở lại thành phố cũ
Một người đi lặng lẽ quanh hồ

Đi dưới cây cơm nguội vàng hoa
Rơi tan tác trên dấu giày hồ nước
Đi trở lại thời trẻ trai bồng bột
Hoa vẫn vàng, người cũ giờ đâu

Người cũ bỏ anh
Anh bỏ thành phố cũ
Nơi con tàu khản giọng đêm mưa
Bàn tay anh thọc vào túi áo
Như muốn tìm chìa khoá ngôi nhà xưa

Ngôi nhà xưa đã thay chủ khác
Túi áo rỗng năm rỗng tháng rỗng ngày
Không phải của anh cả hàng cây cơm nguội
Chiếc ghế đá ven hồ, nhợt nhạt ngọn đèn lay...

Ba mươi năm, anh thành người xa lạ
Thành phố sinh ra anh, anh là khách trọ nhờ?
Qua mấy vòng chiều
Qua mấy vòng đêm
Bàn chân mỏi
Mái tóc đầm sương rơi hay tơ mưa...?
 
 
Đôi mắt
 
Em ngồi trong xe thương binh
Ðôi mắt phủ băng trắng toát
Con đường khép mở - chập chờn
Tôi nhìn em, lo xe xóc

Ðến một đoạn đường lắm dốc
Ðột nhiên tôi nghe tiếng em:
- "Cây số bảy nhăm... năm trước
Nơi em gác đường đêm đêm".

Lạ chưa sau lời em nói
Cây số bảy nhăm hiện lên
Dưới ánh đèn dù chấp chới
Cũng người con gái như em.

Xe đi... Sương dày. Gió thổi
Em reo: - Sắp tới Cổng trời!
Nghe tiếng thác gầm, em bảo:
- Ðường nhiều bom B52.

Sau lời em nói - Cổng trời
Mở ra giữa hai lèn núi
Kìa bãi bom B52
Cây đổ, đất còn bốc khói...

Sửng sốt thấy đôi mắt em
Vẫn phủ bông băng trắng toát...
 
 
Bảy vầng trăng khuyết
 
Binh trạm Trường Sơn năm Sáu chín
Có bảy người con gái trúng bom
Đám tang họ không ai đưa tiễn
Giữa rừng chiều ngổn ngang núi non

Những khuôn mặt lấm lem không bàn tay vuốt mắt
Bảy chàng trai của các cô đâu ?
Bảy chàng trai năm chiến tranh khốc liệt
Sao biết được người yêu mình đã chết ?

Không tiếng mẹ gọi tên con khản giọng
Tên các cô lạc vào hoa, hoa cũng nát nhàu
Da thịt các cô lẫn vào da thịt đất
Người chết và người chết tiễn đưa nhau

Bảy chàng trai là ai, ai biết ?
Nhưng chắc hẳn là có bảy chàng trai
Nếu không chiến tranh, họ đã thành đôi lứa
Như bao lứa đôi hạnh phúc trên đời

Bảy cô gái, bảy vùng quê xa lắm
Hố bom vùi hoá nấm mồ chung
Các cô chết giữa vùng đất chết
Cành cây cháy đen như bàn tay chới với của rừng

Những lá thư tình, những manh áo mới
Bảy cô gái chết rồi chẳng kịp mang đi
Chết tuổi đang yêu, chết còn quá trẻ
Tuổi mộng mơ không kịp trối trăn gì

Đám tang vắng bảy chàng trai ấy
Vắng trắng hoa rừng, vắng nước mắt ngày ngâu
Bảy cuộc chiến tranh, bảy vầng trăng khuyết
Một nấm mồ chìm khuất giữa rừng sâu...
 
 
Cánh diều
 
Này cánh diều tuổi thơ
Tôi - đứa trẻ
Chạy chân trần cỏ biếc

Ơi hỡi bạn chơi diều thuở trước
Áo lính ai người hoá cỏ rừng sâu
Ngôi mộ
Cánh diều đứt dây đã chết

Nghe u u
Tiếng sáo thổi ngang đầu.
 

 
Chiều sương
 
Không gian chợt nhuốm màu tranh thuỷ mạc
Có cảm giác mình nhẹ như sương, bồng bềnh như sương
Ước chi bay lên cùng cánh sâm cầm
Bay lên vòm cây cánh buồm xanh lá
Sương màu tóc mơ hồ trên má
Sông Hồng dài ống tay áo đầy sương

Tấm khăn choàng lên mặt hồ mỏng mảnh
Tưởng cơn gió thoảng qua đủ tan hết sương chiều
Cánh chim – mũi tên phóng về xa thẳm
Con thuyền hút chìm trong sương giăng tơ giăng
Ngọn tháp cô đơn, màu đỏ áo em
Hoàng hôn và vầng trăng mọc sớm
Tất cả chợt sáng lên rồi chìm khuất sương mờ

Tiếng chuông chùa đùng đục màu sương
Tưởng chưa nghe chuông đổ thế bao giờ
Ngỡ tiếng chuông từ ngôi chùa thâm u từ xa xưa  vọng lại
Ôi cái thủa gươm thần và rùa nổi
Cây cổ thụ chưa sinh sông Tô Lịch mới khơi nguồn
Cứ lãng đãng mây bay nghìn năm trước
Chợt thức  một kinh thành cổ kính giữa chiều sương.
 
 
 
Cây đại trước hiên nhà
 
Này, cây đại trước hiên nhà
Lặng lẽ xanh và lặng lẽ hoa
Có ông lão nhìn cây ướm tuổi
Ai biết đời cây lặng lẽ già.

Lặng lẽ cả khi vặn trời cơn bão
Cái cây vẫn đứng như là bình yên
Bầy trẻ nhỏ nhặt hoa rơi quanh gốc
Nhặt cả xác ve sầu ướt sũng mưa đêm.

Lặng lẽ cả khi mùa lá úa
Chiếc lá rơi tiếc nuối trong chiều
Cây gầy guộc khô cằn quá thể
Gió run cành lạnh cóng tiếng chim kêu.

Ngôi nhà cũ thay cổng và thay mái
Cây đại già vẫn đó chẳng dời đi
Lặng lẽ đời cây chìm vào góc khuất
Có thể nhìn cây gạn lọc được điều gì.

Nhưng nhiều lúc mình vô tâm chẳng nhớ
Một đời cây làm bóng mát che người
Cây lặng lẽ giữa quay cuồng phố xá
Thả từng chùm hoa trắng dịu dàng rơi.
 

Nguyễn Đức Mậu
 

 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin cũ hơn