03:32 ICT Thứ năm, 14/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Chân dung văn nghệ

Thế Tuyền

Thứ tư - 09/12/2015 23:29
 
Nghệ sĩ ưu tú Thế Tuyền
Tên thật là Nguyễn Thế Tuyền
(1940 – 2012)
Quê: xã Xuân Tân, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Hội viên Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.
Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định.

Các vai diễn tiêu biểu:
- Lưu Bình trong vở Lưu Bình – Dương Lễ (1962).
- Trương Viên trong vở Đôi ngọc lưu ly.
- Quan án sát trong vở Ni cô Đàm Vân (1976).
- Trần Khánh Dư trong vở Soi bóng người xưa (1980).
- Chủ tịch Hội trong vở Những người nói thật (1985).
- Quan huyện trong vở Anh lái đò sông Vị (1990).
Và nhiều vai diễn chính khác.

Giải thưởng:
- Giải A Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 1980.
- Giải A Hội thi tiếng hát chèo hay toàn quốc tại Thái Bình năm 1981.
- Huy chương Vàng Hội diễn SKCN tại Thái Bình.
- 3 huy chương Bạc trong các Hội diễn SKCN toàn quốc các năm 1962, 1970, 1985.
- Danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.
 



 Nghệ sĩ Ưu tú Thế Tuyền
 
 
Thế Tuyền tên khai sinh là Nguyễn Thế Tuyền, sinh tháng Hai năm 1940 ở quê nhà, làng Liêu Đông xã Xuân Tân huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định. Anh chào đời trong một gia đình có người  cha say mê đàn ca các bài bản cổ truyền. Ông đã truyền niềm say mê ấy cho người con trai lúc cậu bé Thế Tuyền mới sáu, bảy tuổi. Thế Tuyền được cha cho đi theo từ Phủ Xuân lên thành phố Nam Định rồi Hà Nội, được ngồi “chầu rìa,”nghe lỏm” mà nhập tâm tiếng đàn, câu hát trong những cuộc hội ngộ, giao lưu giữa các nghệ nhân có tiếng của tỉnh Nam với các nghệ nhân hào hoa phong nhã đất Hà Thành. Cậu bé dần dà làm quen với tiếng sênh, tiếng phách, nhịp trống và với cây đàn vành vạnh một vầng trăng.
Thế Tuyền kể lại: “Cha tôi từng là công nhân nhà máy Xi măng Hải Phòng, bị tai nạn lao động mất bàn tay phải. Về quê, ông dùng dây buộc móng gẩy đàn vào cùi tay, kiên nhẫn tập lại “ngón” vê, tiếng lẩy để vẫn được chơi đàn. Ông bắt tôi nằm ngửa đỡ lấy cây đàn mà tập dần từng nhịp. Lối học truyền ngón từ cha tôi lúc đầu có phần khiên cưỡng đến khi tôi nhận ra mình thật lòng yêu mê, không tập đàn, tập hát là nhớ”.
Thế Tuyền đi học bậc tiểu học ở trường làng, rồi quê hương kháng chiến. Đêm tiễn bộ đội lên đường, anh được người làng bế lên sân khấu để cùng hát với các anh chị. Theo cha tản cư ngày giặc chiếm quê nhà dựng bốt, cắm rào… Đến ngày hòa bình lập lại, dân làng hồi cư, xã lại thành lập Đội văn nghệ, cha anh mời thầy về dạy nhạc, mời các nghệ nhân Thái Bình sang dạy hát. Thế Tuyền học hát chèo và thuộc hết bài bản của các thầy. Chính tại chiếc nôi “văn hóa làng” ngày ấy, Thế Tuyền đã nhập môn nghệ thuật biểu diễn từ những vai  diễn đáng yêu: Tứ Cửu (Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài), Tiến Lực (Phạm Công – Cúc Hoa)…
Tháng 2 năm 1960, Đoàn chèo Nam Định tuyển diễn viên, Thế Tuyên trúng tuyển cả hai suất: diễn viên và nhạc công.
Là diễn viên Đoàn chèo Nam Định, Thế Tuyền chính thức bước vào sân khấu chuyên nghiệp. Anh lần lượt được thử sức, luyện nghề từ các vai phụ đến các vai chính, từ các vai lệch đến các vai chín… Từ vai Chánh bảo an (Chị Tâm bến Cốc), anh được giao những vai “bề thế” hơn: Trương Viên (Đôi ngọc lưu ly-1962), Lưu Bình (Lưu Bình  Dương Lễ-1962), Ông già (Trên đỉnh núi Tiên Hương-1965), Chủ tịch xã (Lấn biển-1970), Trần Nhân Tông (Trần Quốc Toản ra quân-1971), Hoàng tử (Tấm Cám-1972), Trần Khánh Dư (Soi bóng người xưa-1980), Chủ tịch huyện  (Những người nói thật-1895), Quan huyện (Người Tiền Châu-1990)…
Để trở thành “kép” chính của một đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, được đạo diễn, bạn diễn và nhất là người xem ngưỡng mộ, Thế Tuyền đã phải khổ công “sinh ư nghệ tử ư nghệ”. Anh lặng lẽ học thầy, học bạn, tâm huyết với nghề, hiểu rằng tài nghệ của một diễn viên chèo cần phải “văn ôn vũ luyện” để đạt sáu tiêu chuẩn (Lục tự) mà người đời đã khái quát. Đó là Thanh (Giọng hát), Sắc (Khuôn mặt và hình thể), Thục (Sự hiểu biết về nghề nghiệp và cuộc sống), Tinh (Tinh túy trong các thủ pháp biểu diễn làm nổi bật tâm lý nhân vật), Khí (Giao lưu tình cảm trên sàn diễn giữa các vai diễn, giữa diễn viên với hoàn cảnh), Thần (Diễn xuất sinh động, truyền cảm, lột tả được cái thần thái của nhân vật). Dấu ấn các vai diễn của Thế Tuyền đều đậm dấu ấn sáng tạo. Anh tâm niệm: “Vai diễn cần lung linh tiềm thức, đi sâu vào nghệ thuật biểu hiện, không thể diễn như một con rối vô hồn”. Trình thức đĩnh đạc trong lớp Trương Viên trở về, phong thái tao nhã trong vai Hoàng tử du xuân… người xem không thể quên Thế Tuyền. Anh từng đoạt những giải cao: Giải A vai Trần Khánh Dư, Huy chương Vàng vai Quan huyện… Để có một giọng hát chèo “thật hạt”, chỉ một trổ ngâm xổng, anh đã phải luyện cả vào ngày nghỉ hàng tuần. Thế Tuyền không ỷ vào chất giọng bẩm sinh trời phú. Anh hát tập nơi Đoàn Chèo “đóng quân” làm các bà, các cô đi chợ đặt gánh ngồi nghe. Giọng hát dừng ai nấy đều ngẩn ngơ tiếc nuối. Thế Tuyền đoạt Giải A – Hội diễn thi giọng hát hay toàn quốc tổ chức tại Thái Bình (Trích đoạn Trương Viên trở về - cùng với NSƯT Kim Liên). Năm 1992, Thế Tuyền được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú.
Nghệ sĩ Ưu tú Thế Tuyền là người góp công đưa điệu thức hát chầu văn từ lối diễn xướng “hầu bóng” đượm mùi nhang khói đền phủ thánh thất thành điệu hát văn trữ tình bay bổng, mang được hơi thở của cuộc sống mới, động viên sản xuất, phục vụ chiến đấu bắt đầu từ bài Nam Định quê tôi do nhà văn Chu Văn soạn lời. Với tốp nữ chín chị em trong Đoàn chèo Nam Định, lần đầu tiên câu hát văn quê Nam Định cất cánh cùng vũ điệu duyên dáng thướt tha…tiết mục đoạt 4 huy chương Vàng. Chính Thế Tuyền là người góp phần dàn dựng “tổ khúc hát văn” đầu tiên này.
Nói về anh - một người đồng nghiệp nữ nhận định: “Ngón đàn của Thế Tuyền vào loại hiếm ở Việt Nam. Tiếng đàn nguyệt của Thế Tuyền ngọt ngào, quyến rũ, thiết tha như có máu ở đầu ngón tay. Người nghệ sĩ ấy có thể tự hào vì lòng yêu nghệ thuật dân tộc từ thuở thiếu thời và những cống hiến cho cuộc đời trong suốt hành trình lao động sáng tạo ở Đoàn chèo Nam Định”.
 

 
PHẠM TRỌNG THANH
 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn