22:24 ICT Thứ tư, 13/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Phê bình

36 gương mặt thơ Nam Định - rộng cửa càn khôn, thông nguồn tạo hóa (Hoàng Trung Hiếu)

Thứ năm - 23/03/2017 09:54
36 gương mặt thơ Nam Định
trong Tuyển tập 5 năm 2010 – 2015
- rộng cửa càn khôn, thông nguồn tạo hóa
 
Nhà thơ Hoàng Trung Hiếu
 
 
Đến với thơ đích thực là thơ, cũng như đến với người con gái đẹp trong đêm khi đã trút bỏ mọi đồ trang điểm. Có nghĩa là không thể dùng mắt thường mà cảm nhận? Phải huy động tổng hợp các giác quan, đặc biệt là xúc giác, khứu giác, cảm giác. Vì thế, mà tôi rất thích bài lục bát 4 câu của nhà thơ Phạm Ngọc Bể:
Nửa đêm, đèn tắt, chợ đông
Mải xem, em thoắt cuốn trong dòng người
Toát mồ hôi. Lạc mất thôi!
May nhờ hương tóc…ơn trời, thấy nhau.
Bài thơ đã gửi đến người đọc một thông điệp: cuộc đời của mỗi chúng ta là cả một hành trình tìm kiếm. Muôn nẻo đường trần, tìm trâm vàng dưới đất, tìm đài ngọc trong rừng, tìm ngọc trai dưới biển, tìm mai dưới nguyệt, tìm em giữa dòng đời, có tìm được hay không? Tìm chưa chắc đã thấy, đã được? Muốn tìm được, tìm thấy phải dụng công (Toát mồ hôi) phải biết cách (nhờ hương tóc). Đêm tối, người đông, nhiều âm thanh pha tạp, làm sao có thể dùng mắt mà tìm. Nhà thơ đã rất thông minh tìm hương tóc quen thuộc để thấy được em. Bài thơ nhỏ mà ý nghĩa lớn lao. Đâu phải chỉ tìm em ở chợ xuân mà còn tìm tương lai ở phía trước.
Tôi hoàn toàn đồng cảm với lời đầu sách của Hội đồng tuyển chọn đã viết:  “Thơ luôn gắn bó máu thịt cùng đời sống với tất cả những vui buồn của nó. Đi tìm cái Mcũng đồng ý với nhận xét của Hội đồng tuyển chọn đã nêu: “Điểm nổi trội ở tuyển tập là đề tài phong phú, sức bao ôm hiện thực rộng. Các nhà thơ đi nhiều, quan sát kỹ, suy nghĩ sâu và thường trực có một tâm hồn thơ nhạy bén”… “Ai cũng thể hiện sự nỗ lực nâng cao chất lượng thơ bằng cách làm mới mình…làm mới thơ”
Thưa các anh, các chị (những người hơn tuổi tôi) và các bạn! Muốn là một chuyện, còn có làm được như mong muốn hay không lại là chuyện khác? Ước muốn gì cũng cần phải có hiểu biết. Ước muốn về sáng tạo thơ để làm mới mình, làm mới thơ thì lại càng phải có hiểu biết nhiều, nhiều hơn nữa. Muốn bút khai hoa, để thơ có nhụy quế, mầm lan thì câu chữ phải chứa học thuật, tụ tinh hoa. Người làm thơ phải ham đọc thi thư, biết xem nhật nguyệt, biết ngắm trời mây để cảm nhận sắc thái non sông, hương thơm đất mẹ. Người làm thơ phải có hiểu biết về thơ, có nhận thức luận về thơ. Trong tâm khảm của biết bao thế hệ người Việt Nam ta từ mấy nghìn năm trước cho đến hôm nay, kỳ công, kỳ tích về ngũ cốc và con chữ mãi mãi chẳng thể phai mờ, dấu ấn chẳng thể nào quên. Cảm hiểu sâu sắc về văn hóa, về văn minh lúa nước, nhà thơ Trần Văn Lợi đã viết:
Lặng lẽ đồng xa, đứng dầm chân
Non tơ lúa bén nết chuyên cần
Em như cây mạ, lòng đang Tết
Rễ cuối mùa đông, nõn đã xuân…
Câu chữ trong bài thơ không chỉ là tư duy lô-gic, tư duy hình tượng thông thường mà nhà thơ Trần Văn Lợi sử dụng nó đã tạo nên bước nhảy vọt thăng hoa, mở thông, khai sáng cách nhìn, cách nghĩ, cách hành động của Lúa và Em, Em và Lúa “bén nết chuyên cần” thẩm mỹ đầy sinh khí. Câu chữ trong bài LẶNG LẼ của Trần Văn Lợi chạm vào các giác quan của người đọc thơ bỗng trở nên ảo diệu, vừa thức tỉnh, vừa thanh lọc hóa tâm hồn, hướng người nông dân biết tự hoàn thiện mình trên đồng ruộng. Các bạn cứ thử nghĩ mà xem: Lá lúa như lưỡi gươm thiêng chống đất, chỉ trời. Không có cây nào mà lại gắn kết chặt chẽ giữa đất và nước như cây lúa. Tính cách của người nông dân Việt Nam đều hội tụ ở cây lúa trên đồng cạn dưới đồng sâu. Đó là bản sắc văn hóa truyền thống của Việt Nam ta.
Ông cha ta đã đúc kết: “Cổ lai vô vật bất thành thổ, chỉ hựu duy thi khả thắng kim” (Mọi vật không có vật nào mà không biến thành đất, chỉ duy nhất có thơ là thắng được vàng). Mệnh giá của vàng là đẹp, là quý giá, là không sợ lửa, không sợ thời gian (thời gian không thể làm cho vàng bị hoen ố). Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Trần Văn Lợi cũng có mệnh giá như vậy. Đọc tuyển tập thơ 5 năm (2010 – 2015) của 36 tác giả tỉnh nhà, tôi đã gom được khá nhiều vàng. Tôi khoe với các bạn một thỏi vàng chính hiệu:
Mượn đất… mượn trời… làm vó
Mượn nắng - mưa - sương - gió làm gọng - làm sào
Tôi
Cất được đời tôi!...
Đó là bài MƯỢN  của Nhà thơ Trần Thị Bích Liên. Đọc hết câu cuối của bài thơ, tôi xúc động, vỗ tay xuống trang thơ và reo lên: hay! Rất hay! Sau đó tôi ngồi lặng đi vì bàng hoàng. Một nỗi buồn sâu lắng cứ trào dâng nhưng niềm vui vẫn cứ ùa tới. Đọc một lần là tôi thuộc lòng bài thơ. Tinh hoa nghệ thuật ở bài thơ này không chỉ ở câu chữ dung dị mà còn ở những dấu chấm lửng, những dấu vạch ngang – một thứ ngôn ngữ không lời nhưng cứ vang lên róng riết và còn ở cả giọng điệu của người thơ như đang độc thoại với chính mình và lại còn ở kết cấu dòng thơ dài, ngắn. TÔI – nhân vật trữ tình của bài thơ đứng riêng ra một dòng nhìn rõ mồn một vừa cô đơn nhưng cũng vừa cốt cách và nghị lực. Câu kết thúc rất bất ngờ “cất được đời tôi”. Dòng thơ cuối như vỡ òa ra tiếng khóc. Nhưng đó lại là vui mà khóc? Ngực không có ngọc châu, đầu không có gương báu thì không thể viết được những câu thơ hay để đời như vậy! Bài thơ hay ấy có thể Trần Thị Bích Liên rút từ gan ruột mình ra trong một đêm nào đó. Đêm ấy có thể là một đêm rất đẹp trời, cũng có thể là một đêm đầy mưa gió. Cái đêm ấy có thể chỉ cần năm, bảy phút trong cơn đau dữ dội là đứa con đẻ tinh thần khôi ngô tuấn tú đã cất tiếng khóc chào đời. Đẻ ra thì nhanh thế nhưng người thơ đã mang thai nó mấy chục năm trời? Nhìn được cõi thật của lòng mình là Trần Thị Bích Liên đã mở ra được cổng tam quan để bước vào nơi linh quang chiếu ứng.
Trần Đắc Trung thì lại thả hồn mình vào cõi hư vô. Nhà thơ quan sát bằng trí, bằng tâm hơn là bằng mắt, xem việc trước để đoán việc sau:
Đất đau cỏ đã khâu rồi
Dở hay nay cũng một trời tâm linh
Ai người không có quê sinh
Nào ai biết chọn cho mình mẹ cha?

“Đất đau cỏ đã khâu rồi”  là câu thơ trác việt. Trần Đắc Trung  có phép nhìn tam viễn pháp, dưới nhìn lên, trước nhìn sau, gần nhìn xa. Anh quan sát, tìm kiếm và phát hiện. Anh không chỉ nói về đất về cỏ mà anh nói về những sinh mệnh ẩn khuất trong đất. Bước đi của thời gian và cái mênh mông vô hạn của không gian, cái hữu hạn và khổ đau của kiếp người cứ lặng thầm trong đất, cứ lắt lay trong cỏ. Những mạch nguồn cảm xúc ấy đọng lại ở câu: “Đất đau cỏ đã khâu rồi”. Câu thơ ý tại ngôn ngoại nhưng vẫn rõ số phận, thấu nhân tình, có giá trị xẻ chia mà Trần Đắc Trung đã ký thác vào thơ. Cũng chìm vào những suy tư nhưng Phạm Trọng Thanh lại chìm vào âm thanh của tiếng gọi đò từ một thời xa vắng và Nhà thơ còn biết hóa thân vào những làn mưa xuân trên bến làm cho tiếng gọi đò lại càng ảo diệu, động cả đất trời:
Gọi đò – gọi cả nhân gian
Câu thơ sông Lấp xanh làn mưa xuân
Thơ của Phạm Trọng Thanh tụ thì thành hình như chạm khắc vào thời gian, nhưng nếu tán thì thành khí thiêng lay động cả nhân gian chứ không riêng những người bên bờ sông Vị! Cái nguồn suối thiêng về tình người, tình yêu cứ dào dạt trong tâm hồn các nhà thơ. Nhưng biểu đạt cái nguồn suối thiêng ấy thì mỗi người một vẻ. Chính cái vẻ riêng ấy là minh chứng cho tự đổi mới mình và đổi mới cho thơ. Hoàng Vận không xóa được những kỷ niệm xưa, những hình ảnh cũ nên nhà thơ vẫn phải “chìm” vào dòng sông Múc và tâm sự riêng mình với tóc ai:
Tóc ai dòng Múc chảy xuôi
Cuốn lòng tôi gỡ một đời không ra
Tình ai nồng đậm phù sa
Một đời tôi gỡ không ra …một đời.
Tinh hoa của câu kết thật là diệu nghệ. Anh đã biết mượn thơ để nhắn gửi người xưa.
Được đọc thơ của các anh, các chị và các bạn, tôi thổn thức cả nỗi lòng. Tôi tự hào mình có được những người bạn thơ để thưởng ngoạn. Bài ĐI HỘI ĐỀN TRẦN của Nguyễn Hồng Vinh có tứ hay, có liên tưởng đẹp, lãng mạn đấy mà cũng hiện thực đấy:
Đi hội đền Trần nhớ thời chống Mỹ
Anh từng mơ làm tướng ở A - SẦU
Cô gái Vân Kiều tắm bên bờ suối
Bếp lửa rừng thăm thẳm những đêm thâu!
 
 
Đã bao thời: quân tướng khác chi nhau
Lúc xung trận cùng khát khao chiến thắng
Khi đi hội muốn trời xuân tỏa nắng
Gió nồng nàn
                      e ấp dáng người dưng.
Đi hội đền Trần vừa lưu được kỳ tích, vừa tụ được khí thiêng. Tâm thức tinh thần, phương thức tư duy là những căn cứ nội tại cho một thi phẩm ra đời sáng giá hay mờ nhạt? Có những bài đúng là thơ đấy nhưng người đọc thu nhận được gì khi đọc bài thơ ấy? Chứa học thuật? Tụ tinh hoa? Ngời đức sáng? Sinh hóa của đất trời, huyền vi của cuộc sống, linh điệu của lòng người nếu nhà thơ đều thông tỏ thì thi phẩm sẽ trở thành một bọc khí thiêng mở ra là thấy thiên ứng, địa linh, khi trong hương nhà. Đạo thì không cần tu chỉ cần không ô nhiễm. Thiền thì không cần học chỉ cần tĩnh tâm. Nhưng nhà thơ thì vừa phải tu tâm dưỡng tích vừa phải học và đọc rất nhiều.
Thưa các đồng chí lãnh đạo Hội VHNT,  thưa các anh chị và các bạn! Bất kỳ một cuộc hội thảo nào về thơ cũng là nơi chờ tri kỷ, đón tri âm bước vào cửa thi đàn nghìn năm nêu chính khí để thi phòng nguyệt tỏ. Nhưng bất kỳ một cuộc hội thảo nào về thơ cũng đều phong phú và phức tạp do tính đa giọng đa phương (chữ “phương” tôi dùng có 2 nghĩa: (1) Phương pháp (2) không gian), chứ không có chân lý cuối cùng. Vì vậy, hội thảo là để mở ra chứ không phải là khép lại! Dù khép lại hay mở ra, tôi vẫn mong rằng thơ được đưa ra hội thảo phải là những thi phẩm hưng quốc tế, lợi dân sinh, thấu nhân tình, vuông đạo nghĩa.
Tôi xin mượn bài thơ: TRƯỚC RỪNG THƠ BƯƠM BƯỚM của Nguyễn Chí Dũng – Nhà giáo, Nhà thơ để kết thúc bài viết của mình:
Thơ không cứu được đời nghèo đói
Nhưng muôn năm thơ cứu rỗi linh hồn
Tôi ngợp choáng trước rừng thơ bươm bướm
Chẳng biết nên vui hay lòng lại thêm buồn…
Vì mệnh giá của thơ, xin những nhà thơ hãy động bút!...
 
H.T.H

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn