18:14 ICT Thứ hai, 11/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Phê bình

Một cuộc ra quân rộn ràng, tấp nập (Đỗ Thanh Dương)

Thứ hai - 22/02/2016 22:04

Một cuộc ra quân rộn ràng, tấp nập
 
 
Đó là cuộc “ra quân” của các Hội viên Bộ môn Thơ – Hội VHNT Nam Định vào nửa đẩu thập kỷ thứ 2 thế kỷ XXI, khi đất nước bước vào mùa xuân thứ 25 của sự nghiệp đổi mới, khi khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, nhất là công  nghệ thông tin, khiến đất nước có điều kiện hội nhập rộng rãi vào khu vức và thế giới, kể cả ở lĩnh vực tâm hồn – thơ văn, nhạc, họa. Tôi đã có cảm nhận như thế khi cầm trên tay Tuyển tập Thơ 5 năm (2010 – 2015). 36 nhà thơ là hội viên Bộ môn Thơ, đã có thơ trong tuyển tập, người nhiều 5 bài, người ít 2 bài, là sự ra quân đồng bộ, đáng trân trọng.
Lướt qua các trang thơ, tôi thấy có đầy đủ các “thê đội” – những thế hệ nhà thơ Nam Định, từ thế hệ 3X, 4X đến thế hệ 7X của thế kỷ XX. Các “thê đội” đều bền bỉ, kiên cường và đã có chiến quả. Sau đây là cảm nhận bước đầu của tôi về các gương mặt tiêu biểu.
 
1. Ở thế hệ 3X, 4X nổi lên các nhà thơ Trần Hồng Hải, Trần Gia Thịnh, Nguyễn Hữu Tình, Nguyễn Vĩnh, Thế Hùng, Châu Nguyễn, Phạm Trọng Thanh, Hoàng Trung Hiếu, Nguyễn Chí Dũng, Bùi Công Tường, Hoàng Ngọc Trúc, Nguyễn Hồng Vinh, Đỗ Phú Nhuận, Phạm Trường Thi…Làm thơ từ giữa thế kỷ XX – có người đạt thành tựu từ rất sớm như Trần Hồng Hải, giải Nhất thơ Ty Văn hóa Nam Định năm 1958 – đến nay các nhà thơ trên vẫn còn dồi dào bút lực và mỗi người ít nhiều đều có ánh sắc phù sa riêng góp vào dòng chảy thơ ca Nam Định đương đại.
Thơ Trần Hồng Hải ấm nóng hơi thở thời đại, mà rất hồn nhiên. Ông viết về con đường tuần tra biên giới, về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, về đất nước trong cao trào Đổi mới bằng những lời thơ giản dị như ca dao:
Đứng trên đảo ngắm nơi nơi
Đất nước ta đẹp, biển khơi ta giàu
…Hoàng Sa - Trường Sa song song
Tạo thành thế trận vòng trong, vòng ngoài.
(Gửi Trường Sa)
Cũng với tâm thế hồn nhiên ấy, Trần Gia Thịnh viết về muôn mặt đời thường: nỗi bâng khuâng tiếc nhớ khi đi dạo chợ hoa xuân, hồi ức về mối tình dở dang thời xa ngái, cái ríu rít khi cháu về thăm ngoại, niềm trắc ẩn trước đứa con hóa đá của nàng Vọng phu. Thơ ông rất trẻ so với tuổi đời 80:
Hoa mai hoa cúc hoa hồng
Tôi đi quanh quẩn mấy vòng chợ hoa
… Chắc là em đã đi xa
Để buồn cho cả chợ hoa tôi tìm.
(Chợ hoa)
Nguyễn Chí Dũng, Thế Hùng sau những đằm thắm, mượt mà thời trai trẻ, bước vào tuổi “thất thập cổ lai hy” bỗng lắng lại nỗi niềm thế sự với những câu thơ cô đọng giàu chất triết luận, đúng và hay:
Người lên cung trăng
Chưa cậy mình tài
Anh trèo lên cây
Khoe mình leo giỏi?
Chân trượt ngã
Thân anh thành dấu hỏi
Hỏi đất?
- Đất dày.
Hỏi cây?
- Cây không nói!
(Không đề - Thế Hùng)
 
Người ta
Mua chức sắc
Mua tình yêu
Mua học hàm học vị
Mua lòng tin của những ai nhẹ dạ…
Dễ như trẻ con mua mặt nạ ngày Trung Thu.
 
Nhưng
Người ta
Không thể mua
Nhân cách…
(Mua – Nguyễn Chí Dũng)
Kết tinh đỉnh cao của thế hệ này là Phạm Trọng Thanh, Bùi Công Tường, Hoàng Ngọc Trúc, Đỗ Phú Nhuận, Phạm Trường Thi, năm anh em của một “thê đội mạnh”, trong đó ba người là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Bùi Công Tường hay ở những bài thơ mang tính sử thi viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, về Nhà máy Liên hiệp Dệt anh hùng. Trong đó có những câu thơ đầy tính phát hiện, như về lễ quốc tang Đại tướng:
Trong khi cuộc đời tiễn đưa Ông về cõi thiên thu
Ông lại tiễn đưa ai về miền quên lãng
Dẫu ngừng đập một trái tim Cách Mạng
Vẫn âm thầm “Di chúc” với nhân dân...
(Người thầy vĩ đại)
Cũng viết về Đại tướng, Nguyễn Hữu Tinh có những câu thơ hay liên tưởng so sánh khúc dương cầm “Vì nhân dân quên mình” mà Đại tướng tấu lên với tiếng đàn Thạch Sanh lui giặc.
Phạm Trọng Thanh vẫn tinh tế, nhuần nhuyễn khi viết về Tú Xương (Thành Nam có một gác văn), về Đặng Thế Phong (Đặng Thế Phong mùa thu). Anh còn mở rộng không gian tâm tưởng khi giao cảm với nhà thơ Hy Lạp Mê-nê-la-ôt Lu-đê-mít:
Tôi gặp trái tim nhà thơ trên ngực khỏe sông Hồng
Thêu sóng đỏ trên áo dài Hà Nội (2)
nửa thiên niên kỷ Hồ Gươm lịch sử xoay dòng
…câu thơ trao vòng nguyệt quế
Lẵng hoa đẹp giữa lòng thành phố
bên tháp trời xanh điểm nhịp thanh bình
Hoàng Ngọc Trúc, Đỗ Phú Nhuận say mê với vẻ đẹp truyền thống của làng Việt cổ từ “Cây tre”, “Cổng làng”, “Giếng làng” đến “Làng ven đê” với những câu thơ cổ thể dung dị. Bài “Giếng làng” của Hoàng Ngọc Trúc nếu lược đi khổ 2, khổ 5 sẽ là một bài ngũ ngôn hay về đồng quê:
Cong cong hình bán nguyệt
Tường bao lượn ven bờ
Dưới bóng cây cổ thụ
Vừa đẹp lại vừa thơ

Thôn nữ đi gánh nước
Yểu điệu giữa hàng cây
Dáng nghiêng theo nhịp bước
Đôi má đỏ hây hây

Những đêm hè trăng sáng
Hẹn nhau bên giếng làng
Hai tâm hồn bảng lảng
Đợi đến mùa thu sang.

Đỗ Phú Nhuận có những thể nghiệm khi mở rộng không gian thơ và cách tân thể loại: “Viết ở ga Lép Tônxtôi” không chỉ đưa người đọc đến nước Nga xa vời, mà còn huyền ảo hóa cõi thực và cõi tâm tưởng tạo nên nét mờ mờ sương khói giữa hình ảnh Lép Tônxtôi và bác mugic Pôlyana:
Sống vì đất, chết ông nằm lẫn cỏ
Tiếng thét con tàu hay tiếng gọi lương tâm
Kìa - bác nông dân ở Pôlyana đang ngồi hút thuốc
Hay dáng ông còn đăm đắm tiếp trăm năm.
“Thức với Hà Giang” là bài thơ văn xuôi, lạ và hay. Chỉ những dòng thơ trải dài cùng nhịp điệu trúc trắc của nó mới diễn tả nổi cái quanh co, hiểm trở của con đường tỉnh lộ cheo leo giữa cao nguyên đá. Máu của bao thanh niên xung phong đã đổ suốt hàng thập niên của thế kỷ trước để có “con đường Hạnh phúc – con đường xóa đói giảm nghèo, mang ánh sáng văn minh tới vùng sâu, vùng xa nơi địa đầu Tổ quốc hôm nay – Thơ trúc trắc nhưng tấm lòng cảm phục, thương mến với đất và người nơi đây thì thật nồng ấm.
Phạm Trường Thi là nhà thơ “tay ngang” vừa viết truyện, ký, vừa làm thơ, gần đây có mấy truyện ngắn đăng trên Báo Văn nghệ được người đọc yêu thích. Anh mang vào chùm thơ những câu thơ ngang ngang và cái nhìn sắc lẻm của người viết văn xuôi về những nghịch lý cuộc đời: nguy hiểm và hân hoan, thành công và hẫng hụt, biến thiên dâu bể nhất thời và thiện tâm bác ái vĩnh cửu:
Bổ vào chân tường từng cơn sóng biển
Tháp chuông nghiêng như muốn đổ xuống trùng khơi.
 
Vắng tiếng kinh cầu, thiếu lời xưng tội
Chúa Giê-su đã dắt các tông đồ lướt sóng đi xa…
 
Ngày tháng qua, năm tháng qua
Biển sẽ có trong lòng một cây thánh giá.
(Biển lở)
 
2. Ở thế hệ 5X, 6X xin được đến với thơ Phạm Ngọc Bể, Trần Kế Hoàn, Nguyễn Thấn và Lại Quang Phục.
Phạm Ngọc Bể làm thơ từ thuở là sinh viên và đã nhận giải thưởng dịch thơ ở Báo Sinh viên. Ở tuyển tập này, tôi thích bài thơ tứ tuyệt lục bát của anh: “Lạc ở chợ xuân”
Nửa đêm, đèn tắt, chợ đông
Mải xem, em thoắt cuốn trong dòng người
Toát mồ hôi. Lạc mất thôi!
May nhờ hương tóc…ơn trời, thấy nhau.
Nhịp thơ ngắn, vui gợi nên âm hưởng ríu ran của đôi lứa đi chợ xuân với tình xuân trẻ mãi.
Trần Kế Hoàn có những hình ảnh thơ bám sâu vào hiện thực đời sống, đọc lên cứ rưng rưng. Đó là khi anh nói về nỗi đau da cam:
Đi - ô - xin…
gặm trắng đầu
Da cam quạch đỏ tình trầu… duyên vôi

Mấy lần dị dạng ra đời
Mấy lần máu mắt chảy vơi hồn người
Bới đâu ra chấy anh ơi?
Máu rần rật cháy bỏng mười ngón tay.

(Bới đâu ra chấy)
hay lúc anh tâm tình, chải đầu cho người mẹ đã vào tuổi 95:
Lược ôm vào gió, vào sương
Ngẩn ngơ…

còn sợ rẽ đường ngôi đau
Mẹ ngồi cho con chải đầu
Mẹ cười, con khóc thầm... nhàu chéo khăn…

Nguyễn Thấn nghiêng xuống nỗi đau của dân tộc đã từng qua mấy mươi năm chiến tranh. Anh có những câu thơ thật xúc động về đề tài thương binh liệt sĩ, từ mười cô thanh niên xung phong hy sinh nơi ngã ba Đồng Lộc:
Ở nơi đây
Giờ đã đủ mười người
Mười người vẹn nguyên đồng đội
 
Cây đã kín rồi
Sao mắt lá cứ rưng rưng.
(Sao mắt lá cứ rưng rưng)
đến hình ảnh liệt sĩ phảng phất khói sương luôn hiện về trong trái tim những người thân yêu:
Năm lại qua năm
lũ bão
sạt núi
lở đồi…
đứa con nơi nào? đêm nằm chưa yên chỗ!
(Nấm mộ không anh)
Một ngày…
Con tìm đến cánh rừng
Nén hương trầm nối cõi âm dương
Rưng rưng…
Rừng đối mặt rừng!
(Tìm cha)
Không còn là những câu thơ thuần túy, chỉ thấy trĩu nặng tình người!
Cùng được kết nạp vào Hội năm 2013 với Trần Kế Hoàn, Nguyễn Thấn là Lại Quang Phục. Anh mang vào Tuyển tập một giọng điệu riêng: những bài thơ phảng phất phong vị Thiền (Trước tượng thần Silva, Không gian thiền), thấm đẫm tâm tình nhân thế (Ngẫu hứng chợ Viềng, Lặng lẽ, Mẹ). Bài “Lặng lẽ’ có cấu tứ hay, từ lặng lẽ của tạo vật thiên nhiên đến lặng lẽ những kiếp người buồn, đọc lên vô cùng thương cảm:
Người bỏ ruộng lặng lẽ về thành phố
Lặng lẽ lang thang…
hội nhập chợ người…
Ngược biên ải lặng lẽ gùi hàng lậu…
Ngơ ngác khóc cười… lặng lẽ người ơi…!
 
3. Ở “thê đội” trẻ trung, giàu sức sống nhất có ba nhà thơ thuộc thế hệ 7X: Nguyễn Thế Kiên, Trần Hồng Giang và Trần Văn Lợi. Thơ mỗi người có một vẻ đẹp riêng.
Nguyễn Thế Kiên đã được mặc định với bút danh “Kiên lục bát”. Ở tuyển tập này, anh đóng góp 5 bài thơ, trong đó 3 bài lục bát. Dễ dàng nhận ra những câu thơ hay. Thiết tha là “Lời ru mẹ Âu Cơ gửi đảo’
Biển cồn trăm nỗi tái tê
Lời cha ông dẫn lối về mai sau
“Trời xanh còn ở trên đầu
Mấy ngàn năm đã cũ đâu, kẻ thù”!
 
May còn vang vọng lời ru
Còn nước mắt mẹ nhân từ trong tim
À ơi, đảo nổi đảo chìm
Từ cay đắng mẹ - mà nên đất này.
Gợi suy tư là “tiếng khóc” chào đời:
Oe… oe… oe…
đã làm người
Cuống nhau gửi phía đất trời trong veo
 
Bể đời, một muỗng ta gieo
Mà lòng ngấm đủ chín chiều bão giông

Và tếu táo mà thấm thía là âm thanh của “Điếu cày ca”…Thơ lục bát dễ làm, khó hay. Nguyễn Thế Kiên đã vượt qua “cái dễ” để chạm vào “cái khó”.
Trần Hồng Giang góp vào Tuyển tập chùm thơ mang nặng nỗi ưu tư trăn trở “trên đường đời vội vã” “trong cõi người nhôm nhoam”. Là tiếng lòng trong sáng, thơ anh nhân văn khi cảm thông sâu sắc với những vất vả, nhọc nhằn của người phụ nữ trót sinh ra trong mỏng manh số phận:
Cam lòng phận hạt mưa sa
Hồn nhiên sống giữa cỏ hoa đất làng
Duyên quê chưa kịp điệu đàng
Lưng ong một thuở gái làng vội qua
Gót sen nhuộm nám phù sa
Nón mê sấp ngửa tháng ba vơi đầy
nơi miền quê nghèo:
Làng tôi đồng đất bạc màu
Đàn ông ra phố mơ bao bạc tiền…
Làng tôi cao thấp sang hèn
Với bao thiếu phụ phận quen đàn bà
(Những người đàn bà ở làng tôi)
Thơ anh cũng khá tinh tế khi nghe được “tiếng mùa xuân về” mang theo bao hy vọng, ước mơ:
Tôi đã nghe tiếng bàn tay vừa chạm vào đóa hoa
Ngân rung thật khẽ
Trong mưa phùn nhè nhẹ…
Trong tiếng đông đi vội vàng
…Tôi đã nghe tiếng của đất trời
Mang hơi ấm về bên lòng hoang lạnh
Và những ước mơ lấp lánh
Lại ngân lên thật đầy…
(Tôi nghe tiếng mùa xuân về)
Trần Văn Lợi là gương mặt thơ trẻ, nhiều triển vọng trong số Hội viên Thơ có mặt trong Tuyển tập. “Trẻ” vì tập thơ đầu xuất bản khi anh mới bước vào tuổi 25. “Triển vọng” vì ngoài hơn mười giải thưởng Thơ đã nhận từ tỉnh đến các hội, ngành, anh đã bước đầu định hình được phong cách – điểm đáng quý với người nghệ sĩ. Có thể nói như thế này được chăng: Trần Văn Lợi là nhà thơ của vùng Chân sóng nam châu thổ sông Hồng mang sắc đỏ au của phù sa sông và vị mặn mòi của biển đời cần lao, lam lũ đang bừng sáng trong bình minh hiện đại. Trong Tuyển tập, thơ anh có nhiều hình ảnh đẹp cùng những tứ thơ hay, sáng tạo. Tứ tuyệt “Lặng lẽ” nổi bật lên hình ảnh người thôn nữ mới, chuyên cần mà khiêm nhường, âm thầm chịu đựng mà cứng cỏi, tin yêu, đẹp như cây mạ chiêm chờ đón nắng xuân:
Lặng lẽ đồng xa, đứng dầm chân
Non tơ lúa bén nết chuyên cần
Em như cây mạ, lòng đang Tết
Rễ cuối mùa đông, nõn đã xuân…
“Thôi ta về với ruộng đồng” là khát vọng về với cuộc sống nông thôn thuần phác, chân thực, hòa với thiên nhiên, xa vòng danh lợi phù hoa, gần với triết lý Lão Trang:
Bến sông ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn, âu lo
Lợi danh một thực, mười hư
Trăm điều khao khát cũng phù sa trôi.

“Cua đồng” có một chuỗi hình ảnh lạ, kết quả quan sát tinh tường của người am hiểu nông thôn, nông dân. Khổ kết thật đáng yêu:
Thôi, còn cua đồng đây!
Cứ phận bò ngang lam làm, bước nhẹ
Kiêu hãnh đôi càng to khỏe
Vẫn huơ huơ lên phía trời cao…
“Người mua tóc rối” là bài thơ cảm động nghiêng xuống những phận người lam lũ chưa phải đã hết trong cuộc sống hôm nay.
Trên “mặt trận” thơ ca, Trần Văn Lợi hãy như nhân vật trữ tình trong nhiều bài thơ của anh – chuyên cần, lặng lẽ, tin yêu đi tới.
 
4. Không thể không nhắc tới những nhà thơ nữ Nam Định. Họ là một nửa thế giới, nhưng ở đây chỉ vỏn vẹn 3 nhà thơ, chiếm 1/12 số tác giả có thơ in trong Tuyển tập Thơ 5 năm (2010 – 2015): Trần Thị Nhật Tân, Trần Thị Bích Liên, Nguyễn Thị Kim Ngân. Có chung vẻ duyên dáng nữ tính như cành viôlet dịu mát giữa vườn thơ Nam Định đương đại xôn xao sắc màu, nhưng thơ mỗi chị là một vẻ riêng.
Chùm thơ của chị Nhật Tân mang phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam truyền thống, hiền hậu, đa cảm, nhọc nhằn chịu đựng, ân nghĩa thủy chung, ngay cả khi chị viết về cái gian khổ hy sinh của người nông dân miền núi, của các anh chiến sĩ biên phòng. Có những câu thơ như thoát ra từ miền ca dao:
Quê em miền biển cách xa
Thương em mẹ đón về nhà làm dâu
Cũng từ câu hát mời trầu
Nên duyên chồng vợ nặng sâu nghĩa tình.
(Làm dâu ở bắc sông Cầu)
Thơ Kim Ngân có vị ngọt ngào của hạnh phúc đời thường mà chị đã và đang nếm trải – những rạo rực đất trời vào xuân, những thắm thiết tình yêu đôi lứa, có giây phút dỗi hờn ân hận để rồi chìm ngập với hạnh phúc tròn đầy:
Anh vụng về, lúng túng với cơm canh
Em biết mà. Đừng trách nhé anh!
Tha thứ rồi để em thêm lỗi nữa
Lỗi lầm của em – đó là một nửa
Hạnh phúc sẽ tròn đầy với nửa nữa là anh.
(Em biết mình có lỗi)
Thơ Bích Liên ảo diệu với những hình ảnh thực mà ảo. Từ màu đen của hạt nhãn liên tưởng đến hàm răng đen của mẹ; ngước lên bàn thờ mẹ trong lễ cúng bách nhật, nhớ đến màu thâm của áo mũ Táo Công thấp thoáng bên sắc trắng của bóng hình mẹ trong cõi hư vô…cứ thế để nghĩ về bổn phận, lễ nghĩa, thảo hiền. Có những hình ảnh thơ đọc lên một lần nhớ mãi:
Dãi dầu thức với trắng trong
Nén hương vặn khói mà lòng quặn đau
(Thơ xanh)
 
x x x
Mấy dẫn giải trên đây cho thấy một cuộc ra quân đầu thập kỷ thứ 2, thế kỷ XXI của Bộ môn Thơ – Hội VHNT Nam Định thật tấp nập, rộn ràng. Thơ Nam Định có sự khởi sắc. Trong bộ môn, nhiều nhà thơ đã in riêng tập thơ, nhiều thơ Nam Định in trên báo chí Trung ương, địa phương. Và quan trọng hơn, nhiều người có thơ hay. 163 bài được tuyển chọn trong Tuyển tập như một vườn hoa lung linh hương sắc phản ánh hiện thực phong phú và tâm hồn cao đẹp của người Nam Định. Thơ Nam Định quả thực đang “nhịp bước song hành cùng cuộc sống, bước những bước vững vàng và đóng góp một cách tích cực những giá trị xứng đáng cho nền thơ cả nước” (Lời đầu sách)
Nếu có yêu cầu thêm, tôi xin đề nghị: Trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào thế giới, đất nước ta một lần nữa lại đứng ở trung tâm ASEAN và bên bờ Thái Bình Dương chẳng mấy lặng yên sóng gió – không như con người đã kỳ vọng gửi gắm vào cái tên của nó – Các nhà thơ Nam Định cần hòa nhập hơn nữa vào hơi thở cuộc sống và nói lên bằng giọng điệu riêng của mình âm thanh sôi động của biển đời.
Cuối cùng xin kính tặng các nhà thơ Nam Định câu nói sau đây của nhà phê bình dân chủ cách mạng Nga Bi-ê-lin-xki (1811-1848), câu nói từ giữa thế kỷ XIX mà theo tôi đến nay vẫn đúng: “Bất cứ nhà thi sĩ vĩ đại nào, sở dĩ họ vĩ đại là vì những đau khổ và hạnh phúc của họ đều bắt nguồn từ khoảng sâu thẳm của đời sống xã hội”

 
04/08/2015
 
Nhà nghiên cứu – phê bình ĐỖ THANH DƯƠNG

 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn