22:24 ICT Thứ tư, 13/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Phê bình

Nhà thơ Nguyễn Hữu Tình - sức bền bút lực với trong trẻo “Tiếng dương cầm” (Phạm Trọng Thanh)

Chủ nhật - 16/04/2017 05:54
Nhà thơ Nguyễn Hữu Tình
- sức bền bút lực  với trong trẻo “Tiếng dương cầm”

     
 
Nhà thơ PHẠM TRỌNG THANH
 

 
Nhà thơ Nguyễn Hữu TìnhIn thơ trên báo chí Trung ương và địa phương từ năm 1961, Nguyễn Hữu Tình là một trong những tác giả ở Nam Định ghi dấu ấn trong lòng bạn đọc từ trang thơ đầu tay đến nay đã hơn năm mươi năm. Tôi xin mượn  hai chữ “sức bền” của nhà thơ Hữu Thỉnh trong bài thơ “Sức bền của đất” để thử chạm vào bút lực của một thi ông đồng chiêm Ý Yên cùng đôi lời cảm nhận về bài thơ “Tiếng dương cầm” trong chùm thơ 5 bài, trang 192, Tuyển tập Thơ 5 năm (2010-2015), do Bộ môn Thơ Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định tổ chức bản thảo, nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành . Cùng hiện diện trong tuyển tập thơ này, tôi xin có lời mừng các thi sĩ cùng trang lứa trong thế hệ thơ chống Mỹ ngày ấy, hôm nay vẫn vững vàng bút lực, duy trì sinh hoạt học thuật trong bộ môn thơ Thơ chúng ta như các anh chị thi hữu Trần Hồng Hải, Bùi Công Tường, Trần Minh Ân, Hoàng Vận, Nguyễn Vĩnh, Nguyễn Hồng Vinh, Trần Thị Nhật Tân, Trần Đắc Trung, Phạm Trường Thi, Đỗ Phú Nhuận, Thế Hùng, Nguyễn Chí Dũng…
                                      *
Nguyễn Bính - một trong những nhà thơ “kiện tướng” của Phong trào Thơ mới (1932-1945)  với“Bài thơ quê hương” sáng tác cuối năm 1965 đăng tập san Sáng tác Nam , số Tết năm Bính Ngọ, 1966, có câu: “Trong bụng mẹ đã từng mê tiếng hát/ Nên quê tôi ai cũng biết làm thơ”…Quả có thế thật! Từ miền đất thi ca đồng bằng sông Hồng này, chỉ tính trong thế kỷ XX vừa qua đã có mấy lớp thi nhân lên đường. Và trong cuộc “đồng hành cùng dân tộc” qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ… nhiều người đã đi đến nơi, về đến chốn, tên tuổi họ được vinh danh trên thi đàn đất nước, ai cũng biết.
Trở lại thời điểm sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, thơ ca Nam Định xuất hiện trong những tập Lời ca sông Vị do Ty Văn hóa ấn loát theo kiểu in xen kẽ bên những bài tuyên truyền phổ biến công tác văn hoá, xây dựng đời sống mới, cổ vũ, động viên phong trào thi đua lao động sản xuất. Các cây bút nông dân, công nhân, nhà giáo, cán bộ văn hóa… đã đáp ứng rất kịp thời yêu cầu sáng tác văn nghệ “đại chúng hóa” với các thể loại thịnh hành như thơ, ca dao, tấu thơ, tấu nói, hoạt canh dân ca, chèo… Tuy nhiên, cũng phải kể đến những truyện thơ dài hơi khá chững chạc ngày ấy: Ai qua Phát Diệm - truyện thơ “chống cưỡng ép di cư vào Nam” của Chu Văn, ấn hành năm 1955; truyện thơ Cô gái tóc trắng của Trần Tường, viết theo truyện phim Bạch Mao Nữ  của điện ảnh Trung Quốc, tố cáo tội ác bọn đại địa chủ nước Tàu phong kiến. Và trong các cuộc thi sáng tác thơ ca do Phòng Sáng tác Ty Văn hóa Nam Định phát động, người ta thấy xuất hiện tên tuổi các tác giả vào chung khảo, các tác giả đoạt giải: Trần Hồng Hải, Minh Đức (Xuân Trường), Hoàng Tuấn Hiệp, Văn Hoài (Giao Thủy), Đỗ Danh Lềnh, Vũ Quốc Lập (Trực Ninh), Đoàn Xuân Phả (Nam Trực) Nguyễn Đình Nghị, Đỗ Ngọc Đại (Vụ Bản), Triệu Sức, Nguyễn Tuyển (Ý Yên), Trần Lâm, Văn Sơn, Hoàn Thị Rủ…(Thành phố Nam Định).
Từ nền thơ phong trào những năm 1955- 1959 , thơ Nam Định thật sự có một bước chuyển về chất với sự xuất hiện của một thế hệ mới, tươi trẻ, hồn nhiên. Nguyên nhân của sự hội tụ này là chủ trương  của Ty Văn hóa Nam Định, công sức của nhà văn Chu Văn, nhà viết kịch Hồng Vũ, nhà văn Kim Ngọc Diệu với sự hiện diện nhà thơ Nguyễn Bính khi ông rời Hà Nội về nhận công tác tại Phòng sáng tác Ty Văn hóa quê nhà. Nguyễn Bính yêu quý những cây bút trẻ, ông trở thành vị “chủ soái”, dành một phần tâm huyết chăm chút họ qua những lần tiếp xúc, đàm đạo, chỉ bảo chân tình. Sau ngày Nguyễn Bính tạ thế, nhà thơ Vũ Quốc Ái là người tiếp tục công việc này từ mùa xuân năm 1966 đến mùa thu năm 1977. Sau Đại hội thành lập Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hà Nam Ninh, Nguyễn Hữu Tình tham gia Ban chấp hành, anh được phân công làm trưởng bộ môn Thơ của Hội khóa I (1977-1982).
Nhà báo – nhà thơ Vũ Ngọc Phác trong bài viết về các cây bút thơ chống Mỹ ở Nam Hà đăng báo Nam Hà và in lại trong tập tản văn “Năm tháng chưa xa” đã biểu dương đội ngũ này là “ Một thế hệ thơ trong sáng tự hào” với những tác giả: Vũ Quốc Ái, Vũ Minh Am, Nguyễn Hữu Tình, Thu Thủy (Phạm Ngọc Khảnh), Trần Trung Hiếu, Phạm Như Hà, Hoàng Trung Thủy, Nguyễn Khắc Phục, Nguyễn  Đức Mậu, Hoài Giang (Bùi Công Tường), Trần Minh Ân, Bế Kiến Quốc, Trần Đắc Trung, Trần Hữu Đức, Trần Ngọc Phụng, Trần Mạnh Hảo, Trần Thị Nhật Tân, Đỗ Phú Nhuận, Nguyễn Ngọc Ký, Nguyễn Vĩnh, Nguyễn Hồng Vinh, Phạm Trường Thi, Nguyễn Văn Nhuận, Trần Tiến Như (Nam Định); Vũ Ngọc Phác, Hà Nam Ninh, Tân Thanh, Nguyễn Thái Sơn, Dương Soái…(Hà Nam). Nguyễn Hữu Tình thuộc lớp đầu.
Tôi còn nhớ những câu thơ “ấn tượng” của Nguyễn Hữu Tình được nhà thơ Nguyễn Bính khen tại hội nghị sáng tác tỉnh Nam Định tháng 2 năm 1965: “Tay mắc cày còn lạ nếp u vai” trong bài thơ anh viết về người nông dân đồng chiêm Nam Định đi khai hoang mở mang Tây Bắc năm 1962, hay trong bài thơ viết về sự đổi mới, về tình thầy trò miền quê Ý Yên: “Bỡ ngỡ hôm nay đường về Ngô Xá/ Em dẫn tôi qua vườn bái sau đình/ Gai nhọn đầy vườn mầm cỏ sắc như đinh”…Và ấn tượng với “Đêm phát động toàn dân chống Mỹ”- bài thơ anh  hưởng ứng cuộc thi thơ phát động ngay sau “sự kiện vịnh Bắc Bộ”, ngày 5 tháng 8 năm 1964: “Đêm phát động chuyển sang phần cảm tưởng/ Cả ngôi đình rồng phượng đứng nghiêm trang”…Rồi trong bài “Sân khấu vùng quê”: “Hỡi mình day dứt khóc cười/ Trái tim thành thật hát lời trái tim/ Quản bao thao thức tàn đêm/ Dễ đâu để đổi nỗi niềm vu vơ”… (Tuyển tậpThơ tình Nam Định thế kỷ XX) “Đêm phát động…” là không khí sử thi thời chống Mỹ, còn đêm “Sân khấu vùng quê là khi thơ anh trăn trở một nỗi niềm nghệ sĩ - thi sĩ  giữa nghệ thuật và cuộc đời. Tác giả Nguyễn Hữu Tình, trong hòa điệu những “tiếng đồng” vang động tập thơ Đàn trăng còn có những “tiếng tơ” êm nhẹ kiểu “Hương nhu lặng lẽ bờ đê/ Hương đồng nồng đượm thoảng về ngõ sâu”, “Bâng khuâng anh đứng lặng trông/ Đường sang Trinh Nữ song song bạch đàn”…ngày nhà thơ “Trở lại Yên Hòa”. Anh đã dựng dậy một không gian nghệ thuật thân gần và xa rộng khi thơ anh ngợi ca những phẩm chất, những khí phách một vùng quê văn hiến, những nhân vật tiêu biểu trong không gian sử thi quê hương đất nước vững bước đi lên mà không quên những ngõ quê nhu mì thầm lặng, những đường quê trinh bạch thủy chung… Những “nét quê” và “nết quê” ấy (chữ của Nguyễn Hồng Vinh) làm nên một phong cách Nguyễn Hữu Tình tình nghĩa và chân thành, phóng khoáng và  mực thước,  hồn hậu cốt cách một nhà giáo - một nhà thơ.
Trên nửa thế kỷ lao động thơ, nhà thơ Nguyễn Hữu Tình đã có các tập thơ: Trăng và cánh đồng -  in chung năm 1982; Sen lên - thơ thiếu nhi , in chung, năm 1986;  Đàn trăng - in năm 1997; Hoa trong mắt bão – in năm 2000; và các tập bản thảo hoàn chỉnh: Đồng xanh dậy sóng - Trường ca; Người hát Quốc tế ca - Kịch thơ; Dàn nhạc mùa hè - thơ thiếu nhi sẽ xuất bản. Thơ Nguyễn Hữu Tình tính từ tác phẩm đoạt Giải Nhì tỉnh Nam Định năm 1962 đến năm 2000 tác giả đã được trao 8 giải thưởng ở Tỉnh và Trung ương, trong đó có một Giải A, bốn Giải Nhì, một Giải thưởng tập thơ xuất sắc…Đó là những ghi nhận thật đáng mừng!
      *
Và đây là đôi lời ghi nhận về bài thơ “Tiếng dương cầm” của Nguyễn Hữu Tình. Bài thơ với lời đề từ trang trọng, được nhà thơ viết sau ngay ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần:
TIẾNG DƯƠNG CẦM
                          Tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp  về
         thăm quê hương Yên Tiến tháng 2 năm 1992.
Người lính già huyền thoại đến quê tôi
Như ánh chớp, sao trời, như sắc nắng
Quê Tống Văn Trân mừng Xuân mừng Đảng
Nghe tiếng dương cầm văng vẳng tiếng chuông ngân
 
Anh Bộ Đội Cụ Hồ
Trùng điệp khúc hành quân
Trong đội ngũ Nhân dân và Tổ quốc
Lịch sử hiện lên:
Cỗ - xe - đế - quốc lăn kềnh
Con - voi - thực - dân lòi ruột
 
Nhớ Bác Hồ
Người đã đến quê tôi!
Vị Tướng Già
Nghệ sĩ của ta ơi!
Tiếng dương cầm vang lên
Điện Biên Hò kéo pháo…
Quảng Bình quê ta ơi…
Những giai điệu thác gầm, giông bão
Đánh chắc thắng chắc trận Điện Biên
Thần tốc táo bạo tới Sài Gòn…
 
Đồng thâm canh
Làng thợ mộc sơn son
Những người lính nghiêm trang trong đội ngũ
Tổng Tư lệnh như cây đa cổ thụ
Nhớ cây đa Lịch sử trước sân đình
Tiếng dương cầm vang lên
Vì nhân dân quên mình
Nghe tiếng đàn Thạch Sanh lui giặc
Tiếng dương cầm vang lên
Vì nhân dân hy sinh
Nghe tiếng đàn Thạch Sanh võ công oanh liệt
Nhân ái bao la
Như sóng biển du dương dập dìu ca hát
Xin Người dạo đàn lên cho núi sông dào dạt
Ca Bài ca
Tiến bước dưới quân kỳ
 
Cõi trăm năm
Người bình thản ra đi
Và ở lại…
Người ơi Người ở lại
Tiếng dương cầm
Tấu lên
Ngân hát mãi
Anh hùng ca, huyền thoại, sử thi…
Yên Tiến, 13/10/2013     
Bài thơ dạt dào cảm hứng sáng tạo được khởi đầu từ lòng kính yêu vô hạn với Đại tướng Tổng Tư lệnh ngày ông về thăm quê hương nhà giáo yêu nước-nhà cách mạng Tống Văn Trân với chùm hình ảnh sáng đẹp lạ thường:
Người lính già huyền thoại đến quê tôi
Như ánh chớp, sao trời, như sắc nắng
Quê Tống Văn Trân mừng Xuân mừng Đảng
Nghe tiếng dương cầm văng vẳng tiếng chuông ngân…
Ánh chớp, sao trời, sắc nắng… vẻ thiên chương, phong thái ung dung “Người lính già huyền thoại” dạo bước du xuân trên con đường quê Tân Cầu, xã Yên Tiến, huyện Ý Yên…Và những hồi âm lịch sử “văng vẳng tiếng dương cầm” sáng lên hình ảnh  Đại tướng Tổng Tư lệnh ngồi dạo đàn  trong ngôi nhà riêng ở đường Hoàng Diệu, “thành phố hòa bình” Hà Nội. Khổ thơ mở đầu đáng được khuyên son vì đạt điểm ưu “khai môn kiến sơn” mở cửa thấy núi. Những chuyển điệu trong lối viết linh hoạt gần với  thể ca từ qua những phân đoạn liên thông liền mạch từ ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đến trùng điệp đội ngũ Anh bộ Đội Cụ Hồ . Tác giả đã vận dụng cả thủ pháp đối ngẫu trong văn học cổ, mượn hình tượng văn học dân gian, học tập cách nói của Bác Hồ để tổng kết võ công của thời đại Hồ Chí Minh trong công cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám, qua chín năm gian khổ đối đầu trực diện với chủ nghĩa đế quốc, ách thực dân cũ trong mười hai chữ “chọi nhau chan chát”:
Cỗ - xe - đế - quốc - lăn - kềnh
Con - voi - thực - dân - lòi - ruột
Phân đoạn nối tiếp mạch tự sự trữ tình về tài năng quân sự bậc thầy của vị tướng văn võ kiêm toàn  khi ông ngồi trước đội quân hàng phím dài như đất nước, cầm nhịp cho âm điệu hùng tráng những khúc quân hành xuyên Việt tràn ngập dư ba ngày chiến thắng:
Vị Tướng Già
Nghệ sĩ của ta ơi!
Tiếng dương cầm vang lên
Điện Biên hò kéo pháo…
Quảng Bình quê ta ơi…
Những giai điệu thác gầm giông bão
Đánh chắc thắng chắc trận Điên Biên
Thần tốc tạo bạo tới Sài Gòn…
Cách sử dụng điệp âm - điệp khúc của âm nhạc vào thơ trong các câu điệp “Tiếng dương cầm vang lên” để tăng hòa điệu và nhắc lại chủ đề. Lối dùng ngôn ngữ biểu cảm khá đắc ý khi nhà thơ “gọi” Đại tướng Tổng Tư lệnh kính yêu là “Người lính già huyền thoại” trong câu“Người lính già huyền thoại đến quê tôi”… đấy là tiếng reo thầm của thơ; lúc đẩy lên cao trào  “Vị Tướng Già/ Nghệ sĩ của ta ơi!” là sắc thái của giọng lĩnh xướng trong nghệ thuật hợp xướng. Thủ pháp “liên văn bản”: dùng ca từ câu hát, tên bài hát “đi cùng năm tháng”: Vì nhân dân quên mình, Hò kéo pháo, Quảng Bình quê ta ơi, Tiến bước dưới quân kỳ…khá thành công. Cách so sánh liên tưởng cũng thật sáng giá: Tiếng dương cầm của “Vị tướng già Nghệ sĩ” với  Tiếng đàn Thạch Sanh trong điển tích văn nghệ dân gian… Âm vang giai điệu muôn đời của nhân nghĩa với khoan dung, của hòa bình và nhân ái trong tâm hồn người Việt dìu dặt vang lên dưới bàn tay cầm nhịp của một bậc anh hùng thời đại Hồ Chí Minh:
                   Vì nhân dân quên mình
                   Nghe tiếng đàn Thạch Sanh lui giặc…
                   Vì nhân dân hy sinh
                   Nghe tiếng đàn Thạch Sanh võ công oanh liệt
                   Nhân ái bao la
                   Như sóng biển dập dìu ca hát
                   Xin Người dạo đàn lên cho núi sông dào dạt
                   Ca Bài ca
                             Tiến bước dưới Quân kỳ…
Ở khổ kết là những dòng thơ “hướng nội” chân thành tưởng niệm Đại tướng, nhẹ như khói trầm thành kính dâng lên hương hồn Người đang lan tỏa vào sự trường tồn của Đất Nước muôn đời lấp lánh những anh hùng ca, huyền thoại, sử thi…
Tôi tâm đắc với cách tạo lập tứ thơ “Tiếng dương cầm” của Nguyễn Hữu Tình. Tứ hay khiến cho bút pháp sử thi trữ tình trôi chảy và hình tượng thơ lồng lộng vút lên sáng đẹp và cao quý. Xin chúc mừng một trong những thành công trong “sức bền” lao động sáng tạo ở một cây bút cao niên của Hội: nhà thơ Nguyễn Hữu Tình.
                                                 
Thành phố Nam Định, tháng 8 năm 2015
P. T . T
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn