18:06 ICT Thứ hai, 11/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Phê bình

Phạm Phú Lâm - Hành trình đi tìm cái đẹp (Trần Đắc Trung)

Thứ tư - 30/11/2016 08:35
 

PHẠM PHÚ LÂM - HÀNH TRÌNH ĐI TÌM CÁI ĐẸP
 
  
“Vào thơ - NXB Hội nhà văn 2015”, là tập sách thứ hai của Phạm Phú Lâm. Mười lăm năm trước (2001) anh đã trình làng tập thơ đầu, cũng tên sách này. Thường mỗi khi xuất bản một tác phẩm công trình, người ta có nếp quen chọn cho đứa con tinh thần một cái tên ngõ hầu toát yếu được nội dung ý tưởng muốn gửi gắm, hoặc ít ra cũng chuyển đến bạn đọc một tín hiệu gây ấn tượng, tạo sức hấp dẫn ban đầu…, Ở đây, Phạm Phú Lâm dường không mấy để tâm đến bề ngoài câu chữ. Anh vẫn giữ cho tập sách mới cái tên cũ mình yêu thích. Có thể điều anh muốn bày tỏ là ước vọng tiếp tục mạch nguồn khơi chảy nhiều năm trước, nối dài một hướng đi có chủ đích cố hữu. Đó là đường “vào thơ”, con đường tìm đến cái đẹp với những khám phá tìm tòi, những xúc cảm tươi mới, dẫu biết đó là con đường cô đơn không mấy bằng phẳng, đỏi hỏi sự lao động cật lực luôn biết vượt lên mình.


Nhà thơ Phạm Phú Lâm
1. Điều dễ nhận ra là dung lượng cuộc sống vào thơ Phạm Phú Lâm với biên độ rộng, nhiều màu sắc và khá đa chiều. Có thể thấy bước chân nhà thơ in dấu khắp miền đất nước, từ Bắc vào Nam, từ rừng núi đến biển cả, từ phố phường đô hội đến biên cương hẻo lánh xa xôi… Mỗi cảnh sắc con người qua lăng kính nhà thơ cho thấy một cảm quan tinh tế, mang tới bạn đọc ấn tượng sâu đậm.
Phạm Phú Lâm vốn là nhà giáo có duyên nợ văn chương từ sớm. Những năm đầu sau giải phóng miền Nam, lực lượng trí thức có trình độ cử nhân, bác sỹ, kỹ sư làm việc ở nông thôn chưa nhiều. Mơ ước giản dị muốn đem tri thức và nhiệt tình tuổi trẻ dậy dỗ lớp đàn em đã đưa anh trở về, níu giữ anh với mảnh đất quê hương, trở thành duyên nghiệp để anh gắn bó suốt đời với công việc trồng người cao quý.
Nhưng đời sống xã hội thời bao cấp muôn vàn khó khăn. Trường lớp đơn sơ sách vở đồ dùng dạy học thiếu thốn. Học trò trăm nghìn hoàn cảnh khác nhau, nhiều em vừa đến lớp vừa phải theo công điểm HTX lấy tiền ăn học. Cha mẹ học sinh đa phần nghề nông, quanh năm đánh vật với nắng mưa chạy vạy từng bát cơm manh áo. Đội ngũ nhà giáo thu nhập chủ yếu đồng lương, tài sản có giá chỉ là chiếc xe đạp. Việc đi lại giao lưu tham quan mở rộng kiến thức nâng cao nghiệp vụ gặp nhiều trở ngại. Lên lớp thường cảnh dạy chay, kiến thức thực tế nghèo nàn thiếu vắng… Bởi vậy, khi đất nước bước vào đổi mới, ngọn gió hòa nhập ùa đến cổng trường. giáo dục có bước chuyển mình mạnh mẽ. Nhiều bứt phá sang tạo trong dạy và học được khởi xướng, đã từng bước đáp ứng tốt hơn mục tiêu giáo dục đào tạo con người.
Giai đoạn này, Phạm Phú Lâm có dịp đi nhiều tiếp xúc nhiều. Với anh đây cũng một dịp tự làm giàu mình, một cơ hội tháo cởi bức xúc nhiều năm tích tụ. Thơ anh sau mỗi chuyến đi tái hiện sinh động bức tranh cuộc sống: một ải Chi Lăng “quỷ khốc thần sầu” một đồn biên phòng Bát Xa “tóc chạm trời mây”, một bãi Trà Cổ “cát mịn êm ve vuốt bàn chân”, một con đường Lai Châu đèo dốc thăm thẳm:

 
Đang nắng chân đèo đỉnh chợt mưa rơi
Cây nấm biết đi lon ton em nhỏ
Cô gái nặng gùi nở nụ cười tươi

 
Rồi Đà Lạt, Nha Trang, Vũng Tàu, Mũi Né… Nơi nào bàn chân bước tới, cảnh vật cũng được tái tạo, bừng lên những dáng nét riêng. Tam nguyên Trần Bích San từng viết: Văn vô sơn thủy phi kỳ khí (Văn chương không mang sông núi trong lòng, chẳng thể có khí chất ký lạ).
Trong nghề dạy học vốn sống thực tế, những gì “mục sở thị” lại càng cần thiết. Kiến thức người thầy truyền cho học sinh đâu chỉ nơi sách vở. Nghèo nàn biết bao nếu mỗi trang giáo án chỉ là cái vỏ bề ngoài của câu chữ, con số. Tẻ nhạt sao mỗi nét phấn lời giảng không phập phồng hơi thở cuộc sống, thiếu chất men say ấm tình người! Trước thiên nhiên muôn màu, Phạm Phú Lâm không chỉ tiếp cận với tư cách nhà giáo cảm thụ tích lũy để truyền đạt, mà còn với một hồn thơ nhạy cảm đam mê sáng tạo. Bởi vậy, mỗi khi có điều kiện thâm nhập thực tế, thì hiện thực khách quan luôn là tiền đề, là chất liệu cho thi phẩm xuất hiện. Xin dẫn một trường hợp như vậy:

 
Chiều chuông thả giọt Tây Hồ
Bỗng nghe nghé ọ! Xa mờ khói lên
Trâu vàng rẽ nước quỳ bên
Tuổi thơ đủng đỉnh về miền cỏ xưa

 
Hồ Tây vốn nổi tiếng với câu ca dao “Gió đưa cành trúc”, thiêng hóa với hình tượng Trâu vàng. Đến Phạm Phú Lâm, người đọc thấm tháp hơn trong cảm xúc dân dã, với “chiều chuông thả giọt”, sương khói mờ xa. Hình ảnh “Trâu vàng rẽ nước quỳ bên” ảo mà như thực. Không gian hòa quyện xưa và nay, thời gian cổ tích chừng được ép mỏng lại. Ấn tượng bài thơ tập trung vào câu kết: “Tuổi thơ đủng đỉnh về miền cỏ xưa”. Một vùng ký ức mở ra như cuốn phim quay chậm, buổi chiều ở Hồ Tây mà lòng người sống lại một thời tuổi nhỏ quê hương chăn trâu, cắt cỏ, thả diều.

2. Trong thơ Phạm Phú Lâm, hình tượng con người trong mối quan hệ đa chiều được khắc họa chọn lọc: từ người thân trong gia đình, bạn bè động nghiệp đến những người lao động chiến đấu khắp nẻo đường đất nước. Bằng ngôn ngữ đậm chất dân gian, bóng dáng người cha như “non cao” “bể lặng” như “cây cổ thụ” “ánh mặt trời”… người mẹ như bao bà mẹ Việt Nam thân cò lặn lội, vất vả lam làm chỉ mong con cháu lớn khôn hạnh phúc “Chim bằng nay trời rộng bay vào”. Người mẹ ấy tuổi đã cao sức đã yếu vẫn giàu đức hi sinh: “Nén cơn ho gượng nụ cười, cho gần thấy khỏe xa xôi yên lòng, giữa rừng suối giữ nguồn trong, thành sông gắng tải những dòng phù sa”. Những đứa con đi khắp phương trời ai cũng muốn dành cho mẹ tấm lòng thảo thơm, cả những gì quý báu nhất. Trong tâm trạng ấy nhà thơ chợt nhận ra mình còn bao hờ hững nông cạn, bao điều khiếm khuyết, chưa đầy đặn trong quan hệ ứng xử hàng ngày. Bởi “mải mê công việc làm ăn” mà đánh mất bao thời gian và cơ hội quý báu được gần bên mẹ. Lời tự thú cũng là niềm ăn năn biết lỗi của người con có hiếu trước công lao trời biển của đấng sinh thành.
Ta còn gặp trong “Vào thơ” niềm thiết tha sâu lắng của tình cha con chồng vợ. Trong bài “Chọn” nhà thơ khéo tìm chi tiết bầy tỏ niềm thông hiểu cảm phục người vợ hiền: “Anh chọn người xông đất, mọi việc được hanh thông, chọn người hái lộc cho vườn nhiều trái bông, chọn bàn tay mát lót ổ gà đầu năm, chọn người đứng bếp củi nước đầy gạo dư” đó là những tín hiệu của sự cảm thông, niềm tin tưởng là sự hòa nhập giữa mong ước với việc làm ở cả hai người, sự thuận vợ thuận chồng hạt nhân của gia đình hạnh phúc.
Sau một thời tuổi trẻ đam mê nồng thắm đến nay “lưng lửng” tuổi trời, lời ru người vợ giờ cũng đã “có tuổi”. Vợ chồng lấy chữ thương đắp đổi chữ yêu, chăm sóc cho nhau từng bữa ăn giấc ngủ. Hãy nghe nhà thơ bày tỏ nỗi niềm:

                                Vắng em nồi trơ đáy
                                Bồn cạn thùng rỗng không       
                                Nhìn chỗ nào cũng trống
                                Anh ngẩn ngơ giữa phòng

Thì ra tất cả những gọn gàng ngăn nắp đầy đủ hôm qua là có bàn tay cô Tấm trong nhà thầm lặng vun vén. Vắng bàn tay tần tảo đảm đang, anh thành Ô-sin đi chợ “loay hoay bếp nồi” “đánh vật với sàn chổi”. Mới biết nhóm lên ngọn lửa “một thời nồng say” đâu phải dễ! Nhà thêm cháu nhỏ, ông bà đành tạm hai nơi. Lại giống mẹ cha xưa nước mắt chảy xuôi hết lòng vì con cái. Gia cảnh nhà thơ cũng là của nhiều gia đình Việt Nam thời hiện đại. Bài thơ có sức lan tỏa bởi nhà thơ qua những chi tiết đời sống thường nhật giản dị, đã nói giúp tâm sự nhiều người.
Phạm Phú Lâm có những kỷ niệm không quên thời đi học. Từ cậu trò nhỏ trường làng “trốn học chiều mưa”, đến thuở vác gạo trọ nhà dân “nơi lớp học vườn chay” thời sơ tán, rồi thuở sinh viên “mắt vẫn nguyên xuân thì” ở đâu hình bóng người thầy cũng hiện lên trong niềm biết ơn kính trọng. “Như tầm rút ruột nhả tơ, cho ai dệt những áng thơ dâng đời” “Trước thầy cô chúng em lại thành lũ nhỏ” “Ngọn đèn soi cho em suốt đường dài”. Đó chính là truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc, là nghĩa lớn ở đời. Sau này khi đứng trên bục giảng, ý thức sâu hơn vị trí của mình, anh càng thấm thía đạo lý nghề dạy học: Người thầy càng cho đi nhiều càng giàu hạnh phúc. Dẫu ngày nay trong cơ chế thị trường “Bảng đen thành bảng trắng” “bục giảng nhiều đảo chao” anh vẫn giữ cho mình nhân cách người thầy, tác phong mô phạm, vẫn thường trực một tấm lòng bao dung ưu ái tất cả vì học sinh thân yêu. Anh muốn đem lòng tốt chia đều đến mọi người. Trước một cảnh đời một nỗi niềm trắc ẩn, lòng anh vẫn băn khoăn trăn trở:

                                Ta có lỗi nhiều với cúc
                                Thu còn vương vấn đào mai

Những bông hoa thắm đượm hương sắc trong mùa thu đến trường. Hoa hay tâm hồn trong trắng em thơ vẫn gặp hàng ngày, cùng đòi được tấm lòng thầy bao dung chia sẻ?!
   
3. Như trên đã nói, hành trình vào thơ là hành trình đi tìm cái đẹp. Bản thân đời sống là thực thể phong phú sinh động, hàm chứa giá trị nhân bản, là chất liệu dồi dào, nguồn cảm hứng vô tận của lao động nghệ thuật. Ta nghe Phạm Phú Lâm tâm sự:

                                Cho đời đã tự ngàn năm
                                Con ong tích mật con tằm nhả tơ
                                Cho người tôi hiến máu thơ…
   
Đây là tiềng nói chân tình từ trái tim nhiệt thành tự nguyện gắn bó và dâng hiến. Đã mang lấy nghiệp vào thân, không quản ngại gian nan cực nhọc “Âm thầm đêm bút dồn nhựa chảy”, đánh vật với từng trang bản thảo, nuôi lớn ngọn lửa từ những tứ thơ bất chợt vừa nhen nhóm.

 
Bỗng nhiên giấy muốn đòi thơ
Bỗng nhiên bút chậm thẫn thờ giữa câu

 
Cái duyên ban đầu của người cầm bút là xúc cảm nghệ thuật. Mọi niềm vui nỗi buồn dù nhỏ cũng rung lên cung bậc cây đàn thơ. Nhưng chất nhựa tươi non từ mối giao cảm ban đầu không làm nên tất cả. Càng đi trên chặng dài tít tắp, càng đòi hỏi sự lao động nghiêm túc bền bỉ. Chính giọt mồ hôi thầm lặng mới góp phần quan trọng làm nên vóc dáng tài năng. Điểm đến được hôm nay chỉ là trạm dừng chân của quá khứ, để chuẩn bị hành trang tiếp tục bước đường mới “Ngửa ngang sánh với thuyền người vượt lên”:
 
Bến bờ neo đậu chiều thương
Tàn trăng sớm lại lên đường với thơ

 
Con đường sáng tạo thường không mấy bằng phẳng. Lao động nghệ thuật vốn cá nhân thầm lặng. Giữa cuộc đời sôi động nhà thơ luôn thấy mình đơn lẻ “Một mình viết một mình xem, một mình ly nhắc cụng đêm giao thừa, một mình lu cạn hứng mưa, một mình nhấp tiếng chuông chùa giọt sang”. Cùng tâm trạng như khi đứng trước thảm cỏ “Từng chở che công sự” “chắn sóng thân đê” “nâng bước chân đá bóng đánh cầu”. Cỏ muôn đời vẫn âm thầm lặng lẽ: “ngàn năm với dế rù rì cỏ xanh”. Thơ viết về cỏ mà nói về thân phận con người. Người thơ đã lắng nghe được tiếng rì rầm sự sống, nâng niu trân trọng từng búp lá từng hơi thở mùa xuân. “Tay nâng chồi biếc thơ xuân nghiêng về”.
Về bút pháp, một nét riêng ấn tượng: Có đến non nửa số bài trong tập sách là thơ ngắn bốn câu, thơ tứ tuyệt. Người xưa nói: “Đoản thi tối hảo phá” (Thơ ngắn thi lực mạnh). Có lẽ bởi câu chữ càng cô đúc dồn nén, hình ảnh càng chọn lọc điển hình, càng ý tại ngôn ngoại thì trường hấp dẫn sức ám ảnh của thơ càng mạnh. Trong “Vào thơ”, có nhiều tứ lạ như thế. Trước một bản photo đen trắng, người đời chỉ “thấy được phần nội dung”, sau những ngày mưa bụi dăng màn là tiết lập xuân “Xuân đang đông ngủ gió cới bùng lên”, rồi một hơi lạnh gió khơi trong câu thơ chừng cũng run rẩy “Nằm nghiêng chăn mỏng đắp hờ nghe thu”, một lời nhắc nhở nhẹ nhàng trong màn khói hương nơi điện Tam thế “Khấn cầu mong phật đoái thương, cầu xin thì nhớ nhịn nhường thì quên”. “Nửa đêm” là bài có tứ thơ ấn tượng như vậy:

 
Nửa đêm hương nhớ dậy
Liềm trăng treo lưng trời
Đồng loi thoi gốc rạ
Tình ta em gặt rồi!

 
Chi tiết chọn lọc, hình tượng thống nhất, kết cấu gọn chặt. Bài thơ là lời xác nhận về một mùa yêu đã chín, một hạnh phúc đã tròn đầy. Không phải chỉ tình em mà “tình ta”, không phải chỉ mình em mà cả anh “đã gặt”. Niềm vui hạnh phúc được nhân đôi cho cả hai người.
Để khép lại đôi điều cảm nhận người viết xin dẫn ra đây câu chuyện nước ngoài nghe được đã lâu, chuyện ở một học viện viết văn nổi tiếng. Khóa học năm ấy có rất đông học viên trong nước và quốc tế tham dự, trong đó tám mươi phần trăm học viên chuyên ngánh sáng tác thơ. Sau năm thứ nhất, số người ban thơ còn một nửa, nửa kia chuyển sang viết văn xuôi. Cuối năm thứ hai số người học thơ chỉ còn một phần ba, hai phần kia đi viết kịch và nghiên cứu lý luận. Đến năm kết thúc ra trường người làm thơ chỉ còn phần năm, phần sáu lúc mới thi vào. Một con số thật khiêm tốn mang nhiều ý nghĩa.
Không phải vì thơ cao siêu hơn các nghệ thuật khác. Nhưng nghiệp thơ mặc nhiên có sự kén chọn. Thơ không phải niềm đam mê nhất thời “Trăng lên đầu núi…”. Phải là một tình yêu thực, một sự tự nguyện đánh đổi cả cuộc đời, và sau đó là cuộc chạy Maraton (Chữ của Trúc Thông ) dẻo dai, một quá trình lao động và phấn đấu không mệt mỏi. Trong “Vào thơ”, Phạm Phú Lâm phần nào bộc lộ mình với phẩm chất như thế và đã thu hái những thành công ban đầu. Chúc mừng anh và mong anh luôn giữ được phong độ, sức thanh xuân, có được thành tựu mới trên bước đường thơ, con đường đến với cái đẹp.      
  

 
Trần Đắc Trung



 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn