03:25 ICT Thứ năm, 14/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Phê bình

Quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến trong thơ Nôm từ góc nhìn văn hóa (Phan Đình Phùng)

Thứ năm - 03/08/2017 10:30
Quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến trong thơ Nôm
từ góc nhìn văn hóa
PHAN ĐÌNH PHÙNG
 
Mỗi nhà văn khi sáng tác đều có quan niệm thẩm mĩ của riêng mình. Quan niệm ấy có thể được phát ngôn trực tiếp trong hoặc ngoài văn bản, cũng có thể được thể hiện gián tiếp qua hình tượng, lớp ngôn từ của tác phẩm. Đối với trường hợp thể hiện gián tiếp, cách duy nhất để người nghiên cứu, độc giả có thể nhìn thấy được quan niệm thẩm mĩ của mỗi nhà văn là căn cứ vào hình tượng, nhất là đi từ lớp ngôn từ. Thông qua ngôn ngữ thơ văn, có thể tìm hiểu rõ hơn về quan niệm thẩm mĩ của tác giả. Đó là một trong những ưu việt của việc nghiên cứu tác phẩm văn chương từ góc nhìn văn hóa.
Cũng như hầu hết các nhà thơ trung đại khác, Nguyễn Khuyến trong các sáng tác của mình không phát biểu trực tiếp những quan niệm thẩm mĩ. Tuy nhiên, ẩn đằng sau các lớp ngôn từ, nhà thơ thể hiện ít nhiều các quan niệm thẩm mĩ của mình. Dưới góc nhìn văn hóa, từ lớp ngôn ngữ trong các tác phẩm thơ Nôm, ta có thể hình dung phần nào những quan niệm về cái đẹp, về văn hóa của nhà thơ.
Tiếp cận thơ Nôm Nguyễn Khuyến, độc giả dễ dàng tìm thấy những biểu hiện của cái đẹp. Từ nội dung, cấu tứ, hình tượng đến hình thức ngôn từ, mỗi cái đẹp trong thơ Nôm của ông đều mang đậm dấu ấn văn hóa. Thể hiện những cái đẹp ấy trong thơ Nôm, thi nhân đã vô tình hoặc hữu ý bày tỏ những quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của mình. Đó là những quan niệm về cái đẹp trong chiều sâu văn hóa được nhà thơ thể hiện trong thơ qua nhiều phương diện của tác phẩm, trong đó có phương diện ngôn ngữ thơ.
1. Ngữ liệu văn hóa bác học với sự thể hiện quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến trong thơ Nôm
Là người được đào tạo bài bản trong môi trường Nho học, một bậc đại khoa trọng thần, một mẫu hình nho sĩ tiêu biểu, hẳn nhiên, quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến trong thơ Nôm chịu ảnh hưởng sâu sắc từ sự chi phối của văn hóa Nho giáo.
Đọc thơ Nôm Nguyễn Khuyến, không khó để nhận ra dấu ấn của văn hóa bác học mà tiêu biểu nhất là văn hóa Nho giáo, văn hóa cung đình để lại trong thơ, trong quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của tác giả. Chịu sự chi phối của luồng văn hóa này, quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến ít nhiều gần gũi với một số tác giả - nhà nho (hành đạo) khác.
Dấu ấn của văn hóa bác học trong việc hình thành và thể hiện quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến trong thơ Nôm trên phương diện ngôn ngữ thơ biểu hiện qua việc ưu tiên lựa chọn lớp ngôn từ mực thước, cổ kính, trang nhã. Điều này lí giải vì sao lớp ngữ liệu văn hóa bác học được nhà thơ huy động sử dụng với số lượng rất lớn trong các tác phẩm thơ Nôm.
Kết quả thống kê cho thấy, ngữ liệu văn hóa bác học trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến có 782 đơn vị, chiếm tỉ lệ áp đảo 73% so với 27% ngữ liệu văn hóa bình dân còn lại. Trong ngữ liệu văn hóa bác học, từ Hán Việt chiếm số lượng rất lớn (628 đơn vị). Bên cạnh đó, thi liệu bác học, điển cố cũng chiếm tỉ lệ khá lớn (83 lượt điển cố, 71 lượt thi liệu) (Văn bản được chúng tôi chọn để khảo sát là Nguyễn Khuyến - Tác phẩm, Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh chủ quản, Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, biên dịch và giới thiệu, Nxb KHXH, 1984).
Rõ ràng, nhà thơ sử dụng có chủ đích một số lượng lớn các ngữ liệu văn hóa bác học. Là bậc túc nho, Nguyễn Khuyến hiểu rõ bản chất và giá trị của bộ phận ngữ liệu văn hóa này. Cộng với đó là tài năng sử dụng ngôn từ của thi nhân, các ngữ liệu văn hóa bác học vào tay ông đều trở nên đắt địa, nhiều trường hợp trở thành “nhãn tự” của cả bài thơ, phát huy tối đa giá trị biểu cảm, thẩm mĩ và văn hóa của chúng. Có thể thấy rõ điều này qua một số bài thơ Nôm mà Nguyễn Khuyến chủ động huy động sử dụng một lượng lớn ngữ liệu văn hóa bác học như:
- Sử dụng tập trung nhiều từ Hán Việt trong tác phẩm:
“Khắc khoải đưa sầu giọng lửng lơ,
Ấy hồn Thục đế thác bao giờ?
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?
Thâu đêm ròng rã kêu ai đó?
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.”
                                                (Cuốc kêu cảm hứng)
 - Sử dụng nhiều điển cố:
                                                “Nay mừng ông lão tám mươi
                                    Ấy dân Hoài Cát, hay người Đường Ngu
                                                Nhởn nhơ kích nhưỡng, khương cù
                                    Thiều quang chín chục, xuân thu tám nghìn
                                                Chẳng tiên ấy cũng là tiên!”
                                                                                    (Chúc thọ)
Điển cố “Hoài Cát” do điển Vô Hoài thị và Cát Thiên thị là hai ông vua nổi tiếng tài đức trong lịch sử cổ đại Trung Hoa. Điển “Đường Ngu” do hai điển Đường Nghiêu và Ngu Thuấn, là hai triều vua anh minh thời thượng cổ của Trung Hoa. Cả hai điển đều chỉ cho thời thịnh trị của xã hội lí tưởng thời xưa. Điển “thiều quang chín chục” là điển nội sinh, có nguồn gốc từ Truyện Kiều, rút từ câu thơ “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”. Điển “xuân thu tám nghìn” dẫn trong thiên Tiêu dao du của sách Trang tử: “Thượng cổ hữu đại xuân giả, dĩ bát thiên tuế vi xuân, dĩ bát thiên tuế vi thu” (thời thượng cổ có giống cây đại xuân, lấy 8000 năm làm một mùa xuân, lấy 8000 năm làm một mùa thu). Cả hai điển này đều chỉ cảnh sắc mùa xuân.
 - Sử dụng nhiều thi liệu có nguồn gốc Hán học:
                                    “Đôi ta giao ước với tơ hồng
                                    Vàng đá đinh ninh đã quyết lòng
                                    Chén dặn trên soi thời nhật nguyệt
                                    Lời nguyền dưới xét có non sông
                                    Liễu đào đông cựu lai như nhất
                                    Mai trúc xuân tân một chữ đồng
                                    Một bức tờ này lòng gắn bó
                                    Gìn vàng giữ ngọc để cam công”
                                                                                    (Gửi người con gái xóm Đông)
     Với việc được sử dụng với tần số cao trong các bài thơ, các ngữ liệu văn hóa bác học đã phát huy tối đa tác dụng của chúng trong việc kiến tạo nên lớp ngôn từ giàu tính bác học, hàn lâm đồng thời trang nghiêm, thanh nhã; qua đó, thể hiện một cách gián tiếp quan niệm thẩm mĩ của nhà thơ.
 2. Ngữ liệu văn hóa bình dân với sự thể hiện quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến trong thơ Nôm
      Là bậc đại khoa, từng giữ nhiều trọng trách trong triều đình nhưng Nguyễn Khuyến khác với nhiều người làm quan đương thời. Công cán nhiều nơi, sống gần gũi với nhân dân lao động, tận mắt chứng kiến nhiều bất công trong đời, lại có cái nhìn mẫn tiệp về thế sự, ông là người sớm nhận ra bản chất của chế độ cũng như sự lạc hậu, suy tàn của ý thức hệ phong kiến lúc bấy giờ. Quế Sơn là “nhà thơ cổ điển đầu tiên thấy cái rỗng không của con người lí tưởng truyền thống, là nhà thơ mở đầu sự đổi thay các ý nghĩa tượng trưng của thi pháp cổ xưa” (Trần Đình Sử). Càng về sau, nhất là sau khi lui về “vườn Bùi chốn cũ” ở ẩn, quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của ông có những thay đổi lớn.
      Nếu như ban đầu, quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến chịu sự chi phối sâu sắc của luồng văn hóa Nho giáo hay là văn hóa bác học thì càng về sau, quan niệm này của ông thay đổi theo hướng chịu ảnh hưởng từ luồng văn hóa dân gian. Với sự tác động tích cực của văn hóa bình dân mà chủ yếu là văn hóa ứng xử với đặc điểm về lối nghĩ, lối giao tế; văn hóa vật chất với truyền thống ẩm thực, trang phục, nhà ở; văn hóa tinh thần với các phong tục lễ hội, tín ngưỡng tâm linh của nhân dân lao động, cái đẹp văn hóa trong quan niệm của thi nhân đã biến đối từ cái hài hòa, đăng đối, mực thước, trang nghiêm, tao nhã sang cái sống động, thực tế, đời thường, nhiều khi phá cách, nghịch ngợm. Đó là cái đẹp tươi trẻ, khỏe khoắn, mang đậm đà bản sắc truyền thống văn hóa dân tộc.
     Biểu hiện cho điều này, có thể thấy qua việc sử dụng ngữ liệu văn hóa của nhà thơ. Trong các sáng tác bằng chữ Nôm, Nguyễn Khuyến hạn chế dần việc sử dụng ngữ liệu văn hóa bác học mà tiêu biểu là điển cố, thi liệu Hán học (tổng cộng có 154 lượt dùng), đồng thời, tăng cường sử dụng ngữ liệu văn hóa bình dân. Trong 85 bài thơ Nôm được khảo sát, nhà thơ sử dụng 23 lượt thành ngữ, tục ngữ và ca dao, 24 lượt từ địa phương và từ cổ, 65 lượt khẩu ngữ và 177 lượt từ láy. Với tổng cộng 289 lượt sử dụng, ngữ liệu văn hóa bình dân chiếm một số lượng lớn, góp phần quan trọng vào việc thể hiện quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến trong thơ chữ Nôm.
      Như đã biết, có nguồn gốc nội sinh từ truyền thống văn hóa của dân tộc, ngữ liệu văn hóa bình dân mang trong mình nhiều đặc điểm như tính cụ thể, sinh động, gần gũi với hiện thực cuộc sống và tâm thức người Việt, khả năng cực tả, khả năng tạo hình, biểu cảm cao. Khi được sử dụng tăng cường một cách chủ động, linh hoạt và đúng chỗ, hệ thống ngữ liệu văn hóa này sẽ phát huy được các giá trị tự thân, mang đến cho tác phẩm những giá trị thẩm mĩ độc đáo, bất ngờ, thú vị. Bằng tài năng và nhãn quan ngôn ngữ tuyệt vời của mình, Nguyễn Khuyến đã biết cách lợi dụng các đặc tính quan trọng trên của hệ thống ngữ liệu văn hóa bình dân để thể hiện các ý đồ nghệ thuật, thông qua đó ít nhiều nói lên quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của mình. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà trong thơ Nôm của ông, các bộ phận của ngữ liệu văn hóa bình dân có số lượng khá lớn, xuất hiện với tần sao cao và mật độ tương đối dày. Ví dụ:
 - Sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao (ở nguyên dạng hoặc biến dạng, tần suất 0,27 lượt/ 1 bài thơ):
“Anh mừng cho chú đỗ ông nghè.
Chẳng đỗ thì trời cũng chẳng nghe.
Ân tứ dám đâu coi rẻ rung,
Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe.
Rượu ngon ả nọ khôn đường tránh,
Hoãn đẹp nàng này khó nhẽ che.
Hiển quý từ nay đà mới rõ,
Rõ từ những lúc tổng chưa đe.”
                                    (Mừng ông nghè mới đỗ)
 - Sử dụng nhiều từ cổ, từ địa phương (tần suất 0,27 lượt/ bài):
 “Nỗi nọ, đường kia xiết nói năng!
Chẳng nằm, chẳng nhắp, biết mần răng?
Đầu cành, mấy tiếng chim kêu tuyết.
Trước điếm, năm canh chó sủa trăng.
Bảng lảng lòng quê khôn chợp được.
Mơ màng cuộc thế cũng cầm bằng.
Canh gà eo óc đêm thanh thả,
Tâm sự này ai có biết chăng?”
                                    (Đêm đông cảm hoài)
  - Sử dụng nhiều tiếng lóng, khẩu ngữ (mật độ 0,76 lượt/ bài):
Nghĩ xem đẹp nhất ở làng Và,
Tiếng gọi rằng già cũng chửa già.
Làn sóng liếc ngang đôi mắt phượng,
Tóc mây rủ xuống một đuôi gà.
Nói năng duyên dáng coi như thể
Đi đứng khoan thai thế cũng là
Nghe nói muốn thôi, thôi chửa được,
Được làm dơ dở đã thôi a?”
                                    (Tặng bà Hậu Cẩm)
- Sử dụng nhiều từ láy, từ gần âm (mật độ 2,08 lượt/ bài, trung bình mỗi bài thơ có hơn 02 từ láy, một tuần suất rất cao, ít gặp trong thơ Nôm):
Trò trẹt chi bay học cạnh thầy,
Gật gà gật gưỡng nực cười thay!
Giọng khê nồng nặc không ra tiếng,
Mắt lại lim dim nhắp đã cay.
Đồng nổi đâu đây la liệt đảo,
Ma men chi đấy tít mù say.
Dễ thường bắt chước Chu Y đó
Quyển có câu thần vậy gật ngay.”
                                    (Chế học trò ngủ gật)
        Rõ ràng, sự xuất hiện với tần số khá cao của hệ thống ngữ liệu văn hóa bình dân đã mang đến cho ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến nét sinh động, khỏe khoắn, chân thực, cụ thể, giàu hình ảnh và biểu cảm. Với hệ thống ngữ liệu văn hóa này, hình tượng trong thơ Nôm của ông trở nên sống động, gần gũi hơn. Cái đẹp văn hóa trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến cũng hiện lên cụ thể, rõ nét hơn. Chẳng hạn, trong bài thơ Thu ẩm nổi tiếng của ông:
 “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”
Tác giả đã hạn chế đến mức tối đa việc sử dụng ngữ liệu văn hóa bác học (toàn bài thơ chỉ có 6 từ Hán Việt, trong đó hầu hết các từ đều được Việt hóa hoàn toàn như ao, thu, thuyền, trúc, khách, động; không có điển cố, thi liệu Hán học), đồng thời tăng cường sử dụng từ láy (lạnh lẽo, tẻo teo, lơ lửng, quanh co). Nhờ đó, vẻ đẹp trong sáng, yên bình của bức tranh phong cảnh mùa thu xứ Bắc hiện lên rõ nét, đầy dư vị. Khuynh hướng lựa chọn, sử dụng ngữ liệu văn hóa của tác giả trong bài thơ nói lên cái nhìn của ông về cái đẹp, do đó, phần nào thể hiện quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của nhà thơ.
     Có thể nói, dưới góc nhìn văn hóa, ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến đã gián tiếp thể hiện ít nhiều quan niệm thẩm mĩ của thi nhân trong các sáng tác của mình. Khuynh hướng lựa chọn, sử dụng các hệ thống ngữ liệu văn hóa cho thấy các phương diện cơ bản trong quan niệm thẩm mĩ của nhà thơ. Việc lựa chọn, sử dụng có chủ đích hệ thống ngữ liệu văn hóa bác học (từ Hán Việt có tính điệu thẩm mĩ cao, điển cố, thi liệu Hán học) cho thấy ở tác giả quan niệm về cái đẹp văn hóa mang tính trang trọng, mực thước, tao nhã, chỉn chu, uyên bác vốn chịu sự chi phối của văn hóa Nho giáo. Ngược lại, việc ưu tiên sử dụng tăng cường hệ thống ngữ liệu văn hóa bình dân (văn học dân gian với thành ngữ, tục ngữ, ca dao; ngôn ngữ của nhân dân lao động với từ cổ, từ địa phương, tiếng lóng, khẩu ngữ…) thể hiện ở nhà thơ quan niệm về cái đẹp văn hóa mang tính cụ thể, sinh động, chân thực, gần gũi, tươi trẻ, thậm chí tinh nghịch, phá cách vốn chịu ảnh hưởng từ truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa bình dân.
     Hơn nữa, quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến trong thơ Nôm cũng có sự thay đổi, chuyển biến. Dưới góc nhìn văn hóa, hệ thống ngữ liệu trong thơ Nôm của ông thể hiện điều này. Ở giai đoạn đầu, thơ ông thiên về khuynh hướng thẩm mĩ thứ nhất với sự vận dụng thường xuyên hệ thống ngữ liệu văn hóa bác học. Ở giai đoạn sau, đặc biệt sau khi cáo quan về ở ẩn tại quê nhà, sống hòa mình giữa thiên nhiên thôn quê và cuộc sống của nhân dân lao động, nhà thơ nghiêng về khuynh hướng thẩm mĩ thứ hai với việc tăng cường sử dụng hệ thống ngữ liệu văn hóa bình dân trong các sáng tác.
      Như vậy, thông qua các hệ thống ngữ liệu văn hóa, bằng cách tiếp cận theo góc độ văn hóa, chúng ta có thể hình dung được ít nhiều về quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến trong thơ Nôm. Đây là một trong những ưu thế siêu việt của hướng nghiên cứu bằng con đường văn hóa. Bởi như đã biết, Quê Sơn rất “kín đáo” trong việc phát ngôn quan niệm nghệ thuật. Quan niệm thẩm mĩ của nhà thơ được giấu kín qua hệ thống các ngữ liệu văn hóa mà ông đã sử dụng trong tác phẩm của mình. Nếu không bằng con đường tiếp cận tác phẩm từ góc độ văn hóa, người đọc rất khó phát hiện và giải mã những quan niệm được nhà thơ thể hiện một cách gián tiếp và hết sức mờ nhạt trong các tác phẩm của mình.

 
_____________
            Phan Đình Phùng
            Lớp Cao học Văn học Việt Nam K18, trường Đại học Quy Nhơn
            SĐT: 0994 247 423
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn