07:46 ICT Thứ năm, 14/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Phê bình

TÚ XƯƠNG – MẪU HÌNH NHÀ NHO KIỂU MỚI VÀ THI PHÁP THƠ CA CỦA HÀI KỊCH DÂN GIAN (Nguyễn Hữu Tấn)

Thứ năm - 21/09/2017 10:19
TÚ XƯƠNG – MẪU HÌNH NHÀ NHO KIỂU MỚI
VÀ THI PHÁP THƠ CA CỦA HÀI KỊCH DÂN GIAN
Nguyễn Hữu Tấn
 
1. Đặt vấn đề:
1.1 Xu thế toàn cầu hóa không chỉ là nhân tố kích thích sự đổi mới bút pháp sáng tác của những nhà văn mà còn dẫn đến sự thay đổi “bút pháp phê bình” văn học của những nhà nghiên cứu văn học. Từ những thập niên 90 của thế kỷ trước cho đến nay, tình hình nghiên cứu văn học ở Việt Nam nhìn chung đã thoát khỏi tình trạng đơn điệu và có nhiều tiếng nói khác nhau. Lý thuyết nghiên cứu văn học từ lăng kính xã hội học tuy chưa tàn lụi hẳn nhưng đã hoàn toàn nhường bước cho sự xuất hiện của lý thuyết phê bình thi pháp học, cấu trúc học, kí hiệu học, văn hóa học, phân tâm học, sinh thái học… Đặc biệt là phê bình phân tâm học với sự “đỡ đầu” của Đỗ Lai Thúy. Tuy phương pháp phê bình phân tâm học văn học không phải là một chìa khóa vạn năng, nhưng sự xuất hiện của nó đã góp phần đem kiểu “nghiên cứu văn học bằng sự cảm thụ cảm tính” vào viện bảo tàng nguyên lý lý luận và phê bình văn học. Lý thuyết phân tâm học trong nghiên cứu văn học tính đến nay đã là thế hệ thứ 7 và một nhánh của nó là phân tâm học Folklore đã được định hình và đạt nhiều thành tựu. 
1.2. Tú Xương có một vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc. Ông là hiện tượng độc đáo cuối cùng của văn học trung đại nhưng lại là sự mở đầu ngoạn mục cho nền văn học Việt Nam cận – hiện đại. Chúng tôi cho rằng Xuân Diệu quả là có mắt xanh khi xếp Tú Xương ở vị trí thứ năm sau: Nguyễn Trãi – Đoàn Thị Điểm (nếu thật bà là tác giả của Chinh phụ ngâm khúc) - Nguyễn Du – Hồ Xuân Hương. Cho đến hôm nay, thơ ca Tú Xương vẫn còn lực hấp dẫn rất lớn đối với giới nghiên cứu văn học. Nếu như nhắc đến Hồ Xuân Hương, chúng ta vẫn hình dung về một người phụ nữ trẻ đẹp mãi mãi, thì Tú Xương cũng gợi cho chúng ta hình ảnh chàng trai nho nhã bất chấp thời gian.
1.3. Vấn đề cá tính sáng tạo của nhà thơ non Côi sông Vị đã có vô vàn những bài viết khai thác. Tất cả các bài viết đều xoay quanh cái “ngông” đối chọi xã hội của Tú Xương. Còn chúng tôi lại lựa chọn điểm nhìn nghiên cứu là tâm thức dân gian gắn liền với lý thuyết phân tâm học.
Luận điểm thứ nhất để lựa chọn điểm nhìn nghiên cứu như vậy là vì chúng tôi không hề thấy tư tưởng nhà Nho chính thống khi tìm hiểu thơ ca Tú Xương. Hay nói đúng hơn, thơ ca Tú Xương trở về với cái gọi là “đạo đức của tự nhiên”. 
Luận điểm thứ hai, khi đọc thơ ca Tú Xương, chúng ta không thể không chú ý đến cái “tôi” và vị thế của nhà thơ trong mối quan hệ xã hội với những phạm trù có tính tôn nghiêm của văn hóa trung đại. Mỹ học của thơ ca Tú Xương là cái hài gắn liền với tiếng cười. Chúng ta có quyền liên tưởng về tiếng cười và hành xử của cái “tôi” ấy với những hình tượng Trạng Quỳnh, Xiển Bột, Ba Giai – Tú Xuất… Rõ ràng, cái “tôi” mà tác giả thể hiện trong thơ ca và cái cười mà tác giả đem đến cho bạn đọc giống với một loại hình nhân vật có tính biểu tượng trong văn hóa – văn học dân gian của nhân loại: chàng Hề, chú Hề, Kẻ tinh ranh (Tiếng Anh: Trickster, một số từ ngữ thông nghĩa thay thế là Fool, Jester, Clown…). G. C. Jung, khi nghiên cứu huyền thoại và những thể loại hậu kỳ huyền thoại đã xác định hình tượng chàng Hề là một nguyên mẫu quan trọng trong tâm thức con người. Khi sử dụng lý thuyết mô thức hài kịch của N. Frye chúng tôi càng thấy rõ ràng cấu trúc thơ ca và cội nguồn sáng tạo của Tú Xương.
Luận điểm thứ ba, nói như Đỗ Lai Thúy: Hồ Xuân Hương là kết tinh cho tinh thần lạc quan, bản năng sống của người Việt, thì chúng tôi cho rằng: Tú Xương là kết tinh cho tinh thần trào tiếu dân gian Việt Nam. Hồ Xuân Hương và Tú Xương là hai mặt của tính cách thuần túy Việt Nam: một mặt là tiếng cười vui sống của con người và một mặt là tiếng cười phản biện xã hội; một mặt là tiếng cười giữa trung tâm mọi giá trị và một mặt là tiếng cười giữa những đường biên của mọi giá trị. Chính vì vậy, trong truyền thống cười của người Việt, thơ ca Tú Xương được lưu truyền, gìn giữ và phỏng tác một cách đặc biệt. Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam xuất hiện tinh thần dân chủ đúng nghĩa, dù rằng tinh thần dân chủ đó chỉ là vô thức của nhà thơ. Cách thức mà Tú Xương lưu truyền tác phẩm cũng có tính dân chủ. Ông không hề ghi chép, hoặc ghi chép rất ít, chủ yếu là đọc lên cho mọi người nghe rồi truyền lại. Ông chỉ sáng tác trung thành với chữ Nôm và ông khá tự hào về điều đó: “Rõ thực nôm hay mà chữ dốt”. Trong khi đó, những nhà thơ trước ông vẫn coi trọng sáng tác chữ Hán hơn. Đến Hồ Xuân Hương, tuy là đả phá xã hội phong kiến là vậy, bà vẫn để lại di cảo Lưu hương ký 24 bài thơ chữ Hán với 28 bài thơ Nôm khác xa với thơ ca được lưu truyền. Đến phụ chính đại thần Trương Đăng Quế và các cao đệ như Tuy Lý, Tùng Thiện cũng khen thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương. Thơ của Tú Xương, do vậy mà trở thành kiểu “thơ giai thoại”, “thơ công luận” như hành tích của những câu chuyện trạng. Nói như Platon, hài kịch và tiếng cười là kết tinh của những xã hội dân sự và dân chủ.
2. Nội dung
Bắt đầu bài viết, chúng tôi buộc phải nhắc lại một mệnh đề đã cũ: Tú Xương là hiện tượng độc đáo trong lịch sử văn học dân tộc. Hiện tại, vấn đề xem xét mẫu hình nhà Nho đối với trường hợp của Tú Xương vẫn còn chưa có kết quả cuối cùng. Người đầu tiên tiến hành tìm hiểu vấn đề mẫu hình nhà Nho đối với nhà thơ núi Côi sông Vị này chính là Đỗ Lai Thúy với bài viết: Cười Tú Xương, một trào phúng khác. 
Việc xác lập mẫu hình nhà Nho ở trường hợp Tú Xương được Đỗ Lai Thúy triển khai theo cấu trúc so sánh với Nguyễn Khuyến. Trong sự đối sánh đó, ông bổ sung thêm cặp mô hình: “nhà Nho quan lại/ bình dân; nhà Nho nông thôn/ thành thị”. Và sau khi biểu diễn hai mô hình nhà Nho, Đỗ Lai Thúy cho rằng, sự khác biệt của Tú Xương so với Nguyễn Khuyến là ở: Tú Xương thuộc về mẫu hình nhà Nho thành thị và nhà Nho bình dân; còn Nguyễn Khuyến là nhà Nho quan lại và nhà Nho nông thôn. Cách phân chia của Đỗ Lai Thúy có thể nói là đúng và đã bổ sung được cho quan niệm về mẫu hình nhà Nho của Trần Đình Hượu. Cách phân chia của ông có thể thấy là dựa trên hai bình diện: xuất thân của đối tượng và đơn vị tổ chức hành chính – xã hội mà nhân vật tham gia vào đó để khảo tả. Cho nên cách nhìn của Đỗ Lai Thúy trong chừng mực nào đó, đã phân biệt và làm rõ được đặc trưng tư duy nghệ thuật của cả hai nhà thơ này. 
Tuy nhiên, cách nhìn này không chỉ ra được bản chất sự khác biệt trong phong cách sáng tạo của nhà thơ Tú Xương. Nếu so sánh Nguyễn Khuyến với những thế hệ trước ông thì chúng ta không thấy khác biệt nhiều giữa họ. Bởi vì, Nguyễn Khuyến và nhà Nho trước ông có cùng một ý thức hệ, trong khi Tú Xương đã phần nào nằm ở ý thức hệ khác. Và dựa theo ý thức hệ để phân chia mẫu hình nhà Nho, chúng tôi phân chia thành hai mẫu hình nhà Nho: nhà Nho quân chủ và nhà Nho dân chủ. Và Nguyễn Khuyến đại diện cho mẫu hình nhà quân chủ còn Tú Xương là mẫu hình nhà Nho dân chủ.
Mẫu hình nhà Nho quân chủ là mẫu hình nhà Nho lập chí và lập thân gắn liền với chức năng chính trị của người quân tử trong xã hội phong kiến trung đại. Nhà Nho hành đạo thường là nhà Nho đã lập thân và hiển đạt trong sự nghiệp chính trị. Nhà Nho ẩn dật và nhà Nho tài tử thường là nhà Nho bất đắc chí, lập thân không thành nhưng kiên trung lập chí. Nguyễn Khuyến dù đã “dũng thoái” nhưng tư cách diễn ngôn trong thơ ca của ông vẫn đứng trên tinh thần của ý thức hệ quân chủ. Cho nên, vấn đề mà ông hướng tới thường là vấn đề chính trị. Tiếng cười trào phúng của Nguyễn Khuyến là tiếng cười điển nhã rất lý trí theo đúng nghĩa thâm Nho. 
Tú Xương tuy cũng là nòi thư hương, theo con đường khoa hoạn như lớp người trước. Nhưng bối cảnh xã hội khi ông bắt đầu dấn thân đã rất khác. Mở đầu cho sự thay đổi hệ tư tưởng ở Tú Xương là sự kiện thực dân Pháp chiếm Nam Định vào ngày 27. 3. 1883. Với tư cách là nhân chứng chiết trung nhất, ông chứng kiến sự sụp đổ của vương quyền Việt Nam khi Pháp đạt được hàng ước Patenotre (6.6.1884) để chính thức có quyền lực pháp lý trên toàn cõi Việt Nam. Tiếp đó, bắt đầu từ năm 1891, Toàn quyền J. M. A de Lanessan ban bố kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Và năm 1896, Toàn quyền Paul Doumer cho tiến hành cải cách khoa cử nhằm từng bước xóa sổ nền Hán học. Những sự kiện này đã phần nào lam đứt đoạn ý thức hệ quân chủ trong tư tưởng của Nho sinh Trần Tế Xương.
Sự chiếm đóng cùng với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp khiến cho xã hội Việt Nam có những chuyển biến dữ dội. Trước hết là sự ra đời của đô thị và sự hiện diện của tầng lớp thị dân mới – gắn liền với văn minh Pháp. Tầng lớp thị dân mới – gắn liền với văn minh Pháp vừa mới hình thành dù chưa có một hệ giá trị riêng cho mình nhưng nó lại đem lại cảm quan mới cho giới Nho sĩ thị dân ở đô thị như Tú Xương và Tản Đà. Nó bắt đầu quan tâm đến vật chất sinh hoạt, quan niệm hưởng thụ và sự tự do cá nhân… ở khía cạnh đời tư thế sự. Điều này thiếu vắng hoàn toàn ở nhà Nho trước Tú Xương. 
Cũng làm thơ về hoàn cảnh vật chất, nhưng vấn đề mà Hàn Nho phong vị phú của 
Nguyễn Công Trứ, Tài tử đa cùng phúcủa Cao Bá Quát thể hiện lại là khí tiết của Nho sĩ quân tử theo tư tưởng khắc kỷ tu thân của Nho gia. Tú Xương rất khác, ông kể ra và tỏ ra rất quan tâm đến vật chất trong cuộc sống của mình với ý nghĩa thực nhất: “Nhà lính tính quan, ăn rặt những thịt quay lạp xường, mặc những quần vân áo xuyến” (Phú thầy đồ dạy học); “Quanh năm phong vận, áo hàng tàu, khăn nhiễu tím, ô lục soạn xanh;/ Ra phố xênh xang, quần Tố nữ, bít tất tơ, giày Gia Định bóng” (Phú hỏng thi)…
Cùng viết về sự hưởng thụ những thú chơi thanh tao, nhưng cách tiếp cận của Tú  Xương hoàn toàn khác với cách tiếp cận của những nhà Nho tài tử trước ông. Nếu các nhà Nho như Phạm Thái, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê… khi đến với những thú chơi nghệ thuật với tư cách là một thứ quan niệm sống, một sự gạn đục khơi trong, vừa là sự hưởng thụ tinh thần vừa là sự thể hiện bản ngã thì Tú Xương tìm đến những thú chơi ấy với tư cách là một nếp sống của thị dân, một sự hưởng thụ đã vật chất hóa rất nhiều. Ông nhắc tới những điều này trong tính tả thực và pha sắc màu tự giễu hơn là tính điển nhã: “Cao lâu thường ăn quỵt/ Thổ đĩ lại chơi lường” (Ngẫu vịnh), “Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ/ Rượu chè trai gái đủ tam khoanh” (Tự vịnh), “Hay mình thấy tớ nay Hàng Thao, mai Phố Giấy mà bụng mình ghen/ Hay mình thấy tớ sáng Tràng Lạc, tối Viễn Lai mà lòng mình sợ” (Văn tế sống vợ)…
Và đặc biệt hơn, làm nên phong cách của Tú Xương là tính chất tự do dân chủ có mầm mống ý nghĩa hiện đại. Trong xã hội cổ truyền Việt Nam có công xã dân chủ. Nhưng dân chủ thời đại trước Tú Xương là nền dân chủ gắn liền với văn minh lúa nước, sự cố kết nền văn minh ấy nằm trong sự quy ước chặt chẽ của luật tục. Ở tầng lớp Nho sĩ, tư tưởng dân làm chủ được nhìn nhận như một thứ kinh điển, mà thực chất là tư tưởng tôn dân. Trọng trách của thiên tử là chăn dắt lê dân theo thiên mệnh. Và dân có nghĩa vụ phải thần phục thiên tử. Dân chủ trong kinh điển Nho gia là dân chủ bị động. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, những nhà Nho duy tân đưa thêm các khái niệm dân quyền và nới rộng ra tư tưởng dân chủ của xã hội phong kiến. Tú Xương nằm trong giai đoạn đó nên không ít thì nhiều đã chịu sự tác động tư tưởng đó, nhất là từ Phan Bội Châu. Dấu tích của sự ảnh hưởng này thể hiện ở bài thơ Gửi ông Thủ khoa Phan được viết ngay khi nhà thơ nhận được tin Phan Bội Châu cùng Tăng Bạt Hổ sang Nhật và làm dấy lên phong trào Đông Du năm 1905. Một con người thị tài và khí tiết như Tú Xương mà viết thơ ca ngợi một nhân vật đương thời chứng tỏ đó phải là người có ảnh hưởng đến ông lắm. Tuy nhiên, đem lại cho thơ ca Tú Xương tính chất dân chủ chính là đời sống đô thị và tư tưởng thị dân đương thời. Do sống với tư cách là thị dân mới, nên cốt cách của ông, so với đương thời đã đậm đà phong vị cá nhân, sự tự do phóng khoáng. Chính vì vậy mà tư tưởng quân chủ chính thống tuy có vài ánh xạ nhưng vẫn rất mờ nhạt trong thơ ca của ông. Có thể chắc chắn rằng tư tưởng dân chủ thấm vào nhãn quan của nhà thơ một cách vô thức và mang tính trải nghiệm cuộc sống hơn là tính giáo lý kinh điển. Bởi thế nên, tính chất dân chủ trong thơ ca Tú Xương rất khác biệt với tính chất dân chủ trong thơ ca của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Trong khi các bậc tiền bối nói nhiều về lý thuyết thì thơ ca Tú Xương toát lên tính chất dân chủ một cách tự nhiên. Trong khi các bậc tiền bối nhìn khái niệm dân chủ với tư cách là phạm trù chính trị thì Tú Xương nhìn nó ở con mắt văn hóa đời thường. Trong khi thơ ca các bậc tiền bối là diễn ngôn của người tuyên truyền chính trị thì thơ ca Tú Xương là diễn ngôn dân sự và chú ý đến khía cạnh dân sự. Chính khía cạnh dân sự này làm thơ Tú Xương khác với thơ của các nhà Nho lớp trước ở chỗ, tinh thần phản biện là bản chất tự nhiên chứ không phải là cách thức tiếp cận hiện thực. Và cái hài đã trở thành đối tượng thẩm mỹ thuần túy chỉ có tính độc quyền với tên tuổi Tú Xương. 
Sự xuất hiện cái hài trong sáng tác của ông là biểu hiện cao nhất của tinh thần dân chủ. Điều này chúng ta có thể khẳng định khi nhìn sang xã hội phương Tây. Ngay từ cổ đại, các triết gia Hy Lạp đã khẳng định cái hài là cần thiết để hoàn thiện một xã hội dân chủ tự do. Triết học nghệ thuật Hy – La cổ đại cho rằng, so với cái bi, thì cái hài có mức độ phản biện xã hội cao hơn. Bởi vì bi kịch hướng tới sự phân biệt bằng cách tách rời các yếu tố khác loại; còn hài kịch phân biệt các yếu tố khác loại bằng cách gộp chúng lại với nhau để tạo ra sự tương phản. Bi kịch thường khơi dậy cảm xúc đồng nhất cá nhân còn hài kịch khơi dậy cảm xúc phản biện xã hội. Chính vì vậy mà báo chí biếm họa ở phương Tây không ngừng phát triển khi xã hội phương Tây ngày càng hoàn thiện chế độ dân chủ. Và không có gì ngạc nhiên khi toà báo biếm họa lâu đời nhất nước Pháp Charlie Hebdo bị tấn công thì giới chức và xã hội Âu – Mỹ cho rằng đây là sự kiện vi phạm tự do dân chủ trắng trợn nhất lịch sử nhân loại. Do vậy, Milan Kundera cho rằng, càng ngày văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng sẽ càng tiệm cận với hài kịch.
Chính vì tính chất dân chủ tự do như vậy mà Tú Xương sáng tác thơ ca giàu tính phóng sự ghi lại một loạt những chân dung hài kịch mà xã hội đương thời đã nhào nặn nên. Hầu như mọi thành phần đối tượng, mọi tầng lớp đều được ông ghi chép lại rất sống động. Và dĩ nhiên, mọi nhân vật đều đặt trong những hoàn cảnh thế sự phi chuẩn. Kể cả những nhân vật có máu mặt, ông vẫn đả kích không chùn tay. Viết về Vũ Tuân lụy Hoàng Cao Khải để xin chân hậu bổ, ông xuống gươm quyết liệt: “Ngán nỗi hàng phường khi cúng tế/ Vẽ ông ôm đít để lên thờ” (Phường nhơ). Cũng từ đó, thơ ca Tú Xương thường xuyên đụng chạm đến những vấn đề văn hóa có tính chất cấm kỵ, nói theo ngôn ngữ hiện đại là sự giải thiêng, như khoa cử tôn nghiêm (Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt/ Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng – Giễu người thi đỗ), sự tàn tạ của Khổng học (Đạo học hôm nay lỗi thời rồi/ Mười người đi học chín người thôi – Than đạo học), vai trò lịch sử của nhà Nho (Sao bằng đi học làm thầy Phán/ Tối rượu sâm banh sáng sữa bò – Chữ Nho) và như vậy, ông gián tiếp nói đến sự cáo chung của chế độ phong kiến Việt Nam. Đã có lúcông phải chịu sức ép từ lớp nhà Nho khi ấy (Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ/ Trình có ông tiên, thứ chỉ tôi – Than đạo học); hoặc phải chịu lời phê “lão này không ưa” của tam nguyên Yên Đổ khi “đem trời đối chó”. Nhưng những bài thơ hay nhất của Tú Xương thường là những bài thơ tự do phạm thượng như vậy. Đụng chạm quyết liệt đến thế chính là tính chất dân chủ trong tư tưởng của Tú Xương. Cho nên, ngay khi nhà thơ còn sống, thơ ca của ông đã trở thành hiện tượng “thơ công luận” của cả thành Nam.
Tư tưởng dân chủ - dân sự đem lại cho thơ ca Tú Xương một đặc điểm khác, đó là sự thể hiện bản ngã cá nhân ở phương diện tâm lý tự nhiên trong hoàn cảnh thế sự. Trong văn học trung đại Việt Nam, trước Tú Xương, người có tâm lý tự xưng danh và xuất hiện cá tính chân thật nhất chính là Cao Bá Quát. Trong thơ của mình, Cao Bá Quát đã 15 lần tự xưng chính thức gồm tên, tự và hiệu (cụ thể: Mẫn Hiên 4 lần, Chu thần 3 lần, Cúc Đường 2 lần, Cao tử 3 lần, Cao lang 1 lần, Cao thị 1 lần, Quát 1 lần). Tâm lý xưng danh của ông vẫn nằm trong tính điển nhã của văn học cổ chứ không phải ở phương diện tự nhiên của hoàn cảnh sinh hoạt. Tú Xương thì ngược lại, ông xưng tên chỉ hai lần trong bài thơ Ngẫu vịnh còn lại là những đại từ nhân xưng đã có phần thị dân hóa: tớ, mình, ông, tôi, em, anh… Sự thể hiện bản ngã của Tú Xương khác với nhà Nho lớp trước là ở chỗ ông tự bôi đen chân dung trong mảng thơ tự trào. Các nhà Nho như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Khuyến… thường tự trào bằng cách xem mình là kẻ vô tài, khuyết tài cần “dưỡng chuyết”, nhưng mẫu hình nhân cách họ muốn thể hiện là con người tu thân khắc kỷ, không thể hiện cái tài mà tu dưỡng đạo đức (tạm gọi là con người khuyết tài hữu hạnh). Còn Tú Xương thì không như vậy, ông tự trào về đạo đức, hạnh kiểm của chính mình là chính. Mẫu hình nhân cách của chính bản thân Tú Xương lại được ông thể hiện thành kẻ thị tài/ hữu tài mà vô hạnh.
Tính chất và tư tưởng dân chủ - dân sự trong thơ ca Tú Xương còn ở một khía cạnh khác. Đó là chuẩn mực đánh giá nhân vật, sự kiện, sự việc của ông khác với những nhà Nho thế hệ trước. Khác ở chỗ, những nhà Nho trước đánh giá mọi thứ đều theo những kinh điển của ý thức hệ mà tránh đưa ra ý kiến cá nhân đến mức tối đa. Đánh giá về Hoàng Sào thì phải xem đó là kẻ phản loạn; đánh giá về Đắc Kỷ, Điêu Thuyền, Tây Thi thì đó là hồng nhan họa thủy; về Võ Tắc Thiên thì phải đánh giá là tẫn kê ti thần… Tú Xương rất khác. Ông đánh giá con người và sự kiện theo cảm nhận chủ quan, theo ý kiến của chính mình, dù đôi lúc sự đánh giá của ông vì cay cú, tức tối do thua người như khi ông chế cụ cố và bà cố có con vừa thi đỗ trong bài Ông cử thứ Năm. Mặt khác, nếu các nhà Nho xưa đánh giá đều rất kiệm mực, chủ yếu là đả kích ở chiều sâu, không thể hiện thái độ. Chẳng hạn, Nguyễn Du đánh giá Phạm Tăng, á phụ của Hạng Vũ chỉ hạ mỗi câu trong bài Á phụ mộ: “Mỗi vi thiên hạ tiếu kỳ ngu” (Chỉ để thiên hạ cười là ngu trung). Nguyễn Khuyến đả kích cũng rất nhẹ nhàng: “Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu” (Hội Tây). Nhưng Tú Xương không đánh thì thôi, nếu đánh thì thường dùng thái độ cứa thật sâu vào đối tượng. Tức là ông tự do thể hiện thái độ với đối tượng mà mình đả kích, có lúc thái độ đó có phần nào cực đoan: “Sơ khảo phen này bác cử Nhu/ Thực là vừa dốt lại vừa ngu” (Ông cử Nhu); “Ngán nỗi hàng phường khi cúng tế/ Vẽ ông ôm đít để lên thờ” (Phường nhơ); “Tế” đổi ra “Cao” mà chó thế/ “Kiện” trông ra “Tiệp” hỡi trời ôi” (Thi hỏng), “Chẳng phải quan mà chẳng phải dân/ Ngơ ngơ ngẩn ngẩn hóa ra đần” (Tự trào)…
3.Kết luận
Sống ở thành thị với tư cách là thị dân, tư tưởng dân chủ - dân sự khiến cho thơ ca Tú Xương gắn liền với mỹ học cái hài và phần nào tiệm cận với các mô thức của hài kịch. Lùi về khoảng thời gian Tú Xương sống, ở Bắc kỳ có giai thoại chơi khăm, chơi lỡm thiên hạ của Ba Giai, Tú Xuất. Xa xôi hơn đó là các giai thoại của trạng Quỳnh và Xiển Bột. Đây là các hiện tượng đã thuộc về tâm thức văn hóa. Không phải ngẫu nhiên mà giai thoại Ba Giai - Tú Xuất được nhân dân Bắc kỳ trong thời đại đó yêu mến và truyền tụng. Sở dĩ những giai thoại trên được đương thời truyền tụng vì nó phù hợp với thị hiếu và tâm lý của tầng lớp thị dân trong thời buổi tầng lớp này chưa có hệ giá trị hay những chuẩn mực cho riêng mình. Họ không phải là con người trong xã hội khép kín như thế hệ trước nên mềm dẻo hơn, phóng khoáng hơn. Việc dân gian thêm thắt vào hành trạng của Ba Giai và Tú Xuất khiến cho họ trở thành một biểu tượng văn hóa hài kịch thị dân đã có tác động không nhỏ đến phong cách sáng tác của Tú Xương. Và chúng tôi khẳng định rằng, Tú Xương đã quay về với hài kịch dân gian trong vô thức sáng tạo với tư cách là một nhà Nho thị dân mới. Cho nên, đi tìm bản chất sáng tạo của Tú Xương, chúng tôi sẽ tìm hiểu từ phương diện phân tâm học Folklore. Tiếc là với dung lượng ít ỏi của bài tham luận này, chúng tôi chưa thể trình bày đầy đủ được./.
Nguyễn Hữu Tấn
Nhà nghiên cứu tự do
47/1 Đào Duy Anh, thành phố Huế
Sđt: 0942.247.923
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn