18:13 ICT Thứ hai, 11/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Phê bình

Thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp (Đắc Trung)

Chủ nhật - 21/08/2016 20:30
 
Kỷ niệm 105 ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25-8-1011 - 25-8-2016)
 


 
Thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp
 
Thiên là Trời (tạo hóa). Tài là tài năng. Thiên tài là tài năng được Trời ban. Không phải ai muốn cũng có.
Tuy nhiên thiên tài chỉ xác lập bởi tài năng cùng việc không ngừng nâng cao học vấn và kinh nghiệm thực tiễn. Đồng thời được đảm trách nhiệm vụ với đầy đủ quyền hạn để phát huy. Nếu không, tài năng cũng mất.
Thiên tài quân sự, ngoài yếu tố bẩm sinh Trời phú, còn cần hội tụ những điều kiện do học hỏi tu rèn. Đó là:
1. Nghiên cứu kỹ, hiểu sâu sắc các trận chiến lớn, điển hình, nổi tiếng trong lịch sử thế giới. Nghiên cứu kỹ, hiểu sâu sắc nghệ thuật dùng binh của các danh tướng kiệt xuất. Nghiên cứu kỹ, hiểu sâu sắc binh pháp của các nhà quân sự lỗi lạc, biết vận dụng sáng tạo, làm nên những chiến thắng có ý nghĩa lịch sử sâu sắc và từ thực tiễn đúc rút thành tác phẩm lý luận quân sự.
2. Giàu năng lực và uy tín, huy động các tầng lớp xã hội, đặc biệt tuổi trẻ thành lực lượng. Tổ chức lực lượng ấy một cách khoa học gồm các thứ quân, các quân chủng, binh chủng, các đơn vị chiến đấu cùng bộ máy quản lý điều hành, tham mưu, tác chiến từ thấp đến cao. Trang bị cho lực lượng ấy lý tưởng chiến đấu, tinh thần dũng cảm, kỹ năng hoàn thành nhiệm vụ cùng vũ khí, khí tài, phương tiện chiến tranh, quân nhu, y tế, lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm. Huấn luyện, bồi dưỡng, đào tạo có hệ thống từ tướng lĩnh, sĩ quan và binh sĩ có trình độ chỉ huy và kỹ năng tác chiến từ thấp đến cao, ngày càng tinh nhuệ, kỷ luật nghiêm minh, ý chí kiên cường sáng tạo. Đủ sức đánh bại kẻ thù trong mọi hoàn cảnh, kể cả khi đối phương mạnh hơn.
3. Giỏi toàn diện: tham mưu và sử dụng tham mưu. Chỉ huy tác chiến cả chiến thuật và chiến lược, chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, tình báo, hậu cần... Kết hợp các lĩnh vực ấy thành sức mạnh tổng hợp.
4. Với vai trò Chỉ huy quân đội góp phần quan trọng làm nên những thắng lợi lớn, có ý nghĩa quyết định cuộc chiến tranh, được lịch sử suy tôn.
Đó là bốn tiêu chí để đánh giá một thiên tài quân sự.
Là thầy giáo dạy sử Trường Thăng Long, Võ Nguyên Giáp rất say mê bộ môn này. Ông nghiên cứu lịch sử trong nước, lịch sử thế giới, lịch sử chiến tranh, về các trận đánh lớn, các yếu nhân có tầm ảnh hưởng sâu rộng, các nhà quân sự lỗi lạc... Những kiến thức ấy đã giúp ông rất nhiều trong cuộc đời binh nghiệp. Có lần ngồi trò chuyên với mấy tướng lĩnh thuộc cấp, ông hào hứng phân tích trận Borodino của Kutuzov. Từ việc dùng binh, chọn lựa địa hình, lợi dụng thời tiết, thời điểm tấn công, khả năng cơ động linh hoạt...
Ông Bùi Diễm, cựu học sinh Trường Thăng Long, sau này làm Đại sứ của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ, nhiệm kỳ 1967 - 1972. Hiện cư trú tại Hoa Kỳ. Trong hồi ký "Gọng kìm lịch sử" (In the Jaws ò History) có đoạn ông viết về thầy giáo Võ Nguyên Giáp: "Ban Giáo sư hồi đó gồm những người như ông Phan Thanh, sáng lập viên Đảng Xã hội Việt Nam. Ông Đặng Thai Mai sau này làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Ông Hoàng Minh Giám sau này làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của miền Bắc. Ông Trần Văn Tuyên sau này làm Phó Thủ tướng ở miền Nam. Tất cả những giáo sư trên đều là thầy dạy tôi, nhưng trong tất cả những nhân vật đáng nhớ, đặc biệt có một người mà tôi khó quên. Đó là ông Võ Nguyên Giáp, thầy dạy tôi về môn lịch sử. Dáng người nhỏ nhắn, song nhìn vào ông thì thấy cả một bầu nhiệt huyết. Mặc dầu mãi sau này ông mới nổi tiếng là tướng đánh bại Pháp ở Điện Biên Phủ, nhưng ngay thời đó ông như người bị quyến rũ bởi cách mạng và đấu tranh. Phần chương trình đã được ấn định là giai đoạn từ cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX trong lịch sử Pháp. Nhưng ông Giáp chỉ giảng về hai thời kỳ, là cuộc Cách mạng năm 1789 và những trận đánh dưới thời Napoleon. Còn ngoài ra ông bảo học trò có thể tự tìm hiểu trong sách sử. Những gì về ông Giáp thời ấy thật đặc biệt, vì vậy lúc này, hơn nửa thế kỷ sau, tôi vẫn còn nhớ rõ nét. Ông nói về đời sống xa hoa của Marie Antoinete, về công bằng xã hội, về số phận của Danton, Robespierre. Qua phần trình bày của ông, người ta cảm thấy rõ ông không phải là một giáo sư sử học, mà là một người say mê cách mạng. Phần giảng của ông về Napoleon thì lại càng ly kỳ hơn. Đi đi lại lại trước bảng đen, với một cái thước gỗ để chỉ rõ từng trận nhỏ. Hình như ông đã in tất cả vào trong đầu và lịch sử đã biến thành một phần của con người ông. Trong lúc nói về những trận đánh, ông như chìm đắm vào thế giới của mình, ông lôi kéo học sinh vào thế giới đó. Vì vậy mà trong giờ ông giảng cả lớp im phăng phắc. Ông kính phục Danton, Robetspierre và ngưỡng mộ Napoleon".
Rõ ràng ngay từ khi còn trẻ, Võ Nguyên Giáp đã say mê nghiên cứu lịch sử chiến tranh, về các trận đánh lớn, các nhân vật có tầm ảnh hưởng sâu rộng và các danh tướng lỗi lạc. Chính vì thế, khi nhận xét về ông, ký giả Nicolas Gauthier, trên tờ B.Voltaire (Pháp) đã viết: "Không được đào tạo bài bản quân sự, nhưng ông lại rất giỏi các nội dung cơ bản về nghệ thuật quân sự".
Võ Nguyên Giáp rất ý thức tìm hiểu về cuộc Cách mạng Pháp và lòng tràn đầy nhiệt huyết đấu tranh cách mạng. Đúng. Bởi lý tưởng xuyên suốt cuộc đời ông là, chiến đấu giành độc lập cho dân tộc, đem lại tự do, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam.
Võ Nguyên Giáp dày công nghiên cứu lịch sử Pháp, nhất là danh tướng Napoleon. Đúng. Bởi đế quốc Pháp đang là kẻ thù trực tiếp đô hộ Việt Nam. Muốn thắng Pháp phải "hiểu chân tơ kẽ tóc người Pháp". Muốn đánh bại các tướng Pháp, phải hiểu truyền thống nghệ thuật quân sự của họ. Mà nghệ thuật ấy, là sự kế thừa tinh hoa được đúc kết từ các bậc danh tướng tiền bối nước Pháp, tiêu biểu là Napoleon. Không chỉ thế, ông nghiên cứu Napoleon còn nhằm mục đích học hỏi ông ta.
Mọi ý nghĩ, lời nói, việc làm của Võ Nguyên Giáp đều xuất phát từ lòng yêu nước. Tất cả hiểu biết, từ lịch sử, phép dùng binh của các danh tướng, từ lý luận binh pháp,  tổng kết thực tiễn, đều được ông vận dụng sáng tạo. Để làm nên những chiến thắng mang ý nghĩa quyết định của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, "Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân" được thành lập, gồm 34 chiến sĩ, trang bị rất thô sơ. Chỉ có 2 khẩu súng lục, 19 súng trường, 14 cạc-bin, một trung liên hầu hết cổ lỗ sản xuất từ năm 1905. Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Hai hôm sau, ngày 24 tháng 12 năm 1944, họ đã tổ chức tấn công đồn Phai Khắt.
Đồn Phai Khắt trên đất xã Tam Lộng, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, do một sĩ quan cấp úy người Pháp chỉ huy và hơn hai chục lính khố xanh người Việt.
Nhà ông Nông Văn Báo cách đồn không xa. Ông Báo nhanh nhẹn, tháo vát, biết nói tiếng Tây, lại có cô con gái xinh đẹp tên là Nông Thị Lỵ nên tên đồn trưởng thường lui tới. Hoặc đôi khi có việc gì cần hắn vẫn gọi ông vào đồn sai bảo. Nhờ thế, những điều mắt thấy tai nghe, từ trang bị vũ khí, đường ngang lối tắt, nội quy, thói quen sinh hoạt trong đồn ông biết hết, nhớ hết, để rồi kể lại hết cho "Anh Văn" và các đồng chí Việt Minh. Không chỉ đồn trưởng, mà những cậu lính háu gái cũng thích ra nhà ông, gặp việc gì cũng làm giúp, cốt để được tán tỉnh người đẹp.
Chiều 24-12-1944, qua ông Báo, biết tên đồn trưởng cưỡi ngựa cùng hai lính tháp tùng rời đồn đi công vụ trên Châu. Cô Nông Thị Lỵ đem lúa ra giã để làm bánh tráng và bánh cuốn là nghề truyền thống của gia đình. Mục đích để kéo lính từ đồn Phai Khắt ra phụ giúp. Chỉ một lúc sau, 8 tên lần lượt rủ nhau đến. Tiếng cười nói rôm rả. Cô Lỵ có nhiệm vụ giữ chân bọn chúng.
Chớp thời cơ, những chiến sĩ của ta đóng giả lính dõng đi thẳng vào đồn. Vừa qua cổng, lập tức triển khai tấn công luôn. Bị bất ngờ lính trong đồn hoảng sợ, giơ tay xin hàng không dám chống cự. Thấy động những tên lính ở nhà cô Lỵ hớt hải chạy về cũng bị tóm gọn. Cùng lúc ấy một tốp chiến sĩ phục kích bên suối Hoàng Bè. Chờ tên đồn trưởng và hai lính tháp tùng đến thật gần mới bất ngờ xông lên. Tên đồn trưởng ngoan cố nổ súng bắn trả, liền bị tiêu diệt.
Ta chiếm đồn Phai Khắt chỉ tốn hai viên đạn, thu toàn bộ quân trang quân dụng. Số bị bắt, được tuyên truyền giác ngộ. Ai theo Việt Minh thì ở lại, ai muốn trở về quê hương sẽ được cấp giấy và tiền lộ phí.
Thừa thắng, ngay hôm sau ta đánh đồn Nà Ngần.
Nà Ngần cách Phai Khắt khoảng 25km, có 22 lính khố đỏ và 2 chỉ huy người Pháp. Sáng sớm ngày 26-12-1944, các chiến sĩ của ta dùng trang phục lấy được ở đồn Phai Khắt giả làm lính khố xanh, tiến thẳng vào Nà Ngần, tổ chức tấn công ngay. Cuộc chiến đấu diễn ra rất nhanh. Phía địch chết 4 lính, phía ta an toàn, hai chỉ huy người Pháp không có mặt ở đồn vì đi lên tỉnh từ hôm trước, còn tất cả đều bị bắt. Sau khi được tuyên truyền hầu hết xin về quê quán.
Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, có ý nghĩa cổ vũ động viên rất lớn đối với lực lượng vũ trang non trẻ của ta. Về chiến thuật Võ Nguyên Giáp đã áp dụng thành công "Tôn Tử binh pháp" như: "Kế phản gián" dùng ông Nông Văn Báo thu thập tin tức; "Kế mỹ nhân" dùng nhan sắc và lời nói khéo của cô Nông Thị Lỵ lôi kéo bọn lính rời khỏi đồn, lợi dụng thời cơ khi đối phương sơ hở bất ngờ tấn công ngay; "Kế không thành" giả trang làm lính khố xanh khiến đối phương "không rõ hư thực" không dám hành động.
Từ cuối năm 1946, quan hệ giữa Việt Minh và Pháp hết sức căng thẳng. Ngày 16-2, Mô-li-e (Morliere) chỉ huy quân đội Pháp ở bắc Đông Dương liên tiếp gửi cho Chính phủ ta hai tối hậu thư, tuyên bố: quân Pháp sẽ tự mình đảm nhận trị an Hà Nội, chậm nhất là vào sáng 20-12-1946. Thế là rõ. Chúng không kiếm cớ nữa, mà chủ động tấn công nhằm tiến hành đảo chính bằng bạo lực.
Sáng 19-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng gửi các mặt trận và các khu bức điện khẩn:
"Giặc Pháp đã hạ tối hậu thư đòi tước khí giới của quân đội, tự vệ, công an ta. Chính phủ đã bác tối hậu thư ấy. Như vậy chỉ trong 24 giờ là cùng, chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng. Chỉ thị của Trung ương: "Tất cả hãy sẵn sàng!"".
Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban bố:
"Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến!
...Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm. Không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc...
... Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước..."
Lời hịch đó vang dội núi sông. Khiến đồng bào Việt Nam muôn người như một, sát cánh cùng nhau nhất tề xông lên giết giặc cứu nước.
Chiều 19-12-1946, Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp ra mệnh lệnh chiến đấu:
 "Tổ quốc lâm nguy!
Giờ chiến đấu đã đến!
Theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Chính phủ, nhân danh Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy, tôi hạ lệnh cho toàn thể bộ đội, vệ quốc quân và dân quân tự vệ Trung - Nam - Bắc phải nhất tề đứng dậy, phải xông tới mặt trận giết giặc cứu nước.
Hy sinh chiến đấu đến giọt máu cuối cùng!
Tiêu diệt thực dân Pháp!
Quyết chiến!".
Cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, toàn quốc bùng nổ.
20 giờ 03 phút. Đèn điện toàn thành phố vụt tắt bởi một khối thuốc nổ đã được đặt tại trung tâm phát điện của Nhà máy điện Yên Phụ điểm hỏa. Lập tức đại bác của ta từ Pháo Đài Láng gầm lên. Cả Hà Nội vang rền tiếng súng.
Chúng ta, những người bị xâm lược, lực lượng yếu hơn địch rất nhiều, mà dám chủ động nổ súng tấn công trước, lại ngay giữa Thủ đô. Mở đầu cho cuộc kháng chiến thần thánh đầy gian khổ khó khăn ác liệt. Nhưng cuối cùng đã giành thắng lợi.
Đây là sự sáng tạo đặc biệt của Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp. Bởi lịch sử chiến tranh dường như rất ít có tiền lệ. "Tôn Tử binh pháp" dạy: "Quy luật tác chiến như dòng nước chảy. Quy luật nước chảy tránh cao hướng thấp. Cho nên tác chiến không có chiến pháp cố định. Giống như dòng nước chảy tùy ở địa thế cao thấp mà biến hóa". Sự sáng tạo của Võ Nguyên Giáp chính là sự biến hóa. Ông quyết định làm điều ấy, phải chăng trong trận đánh ở Hải Phòng ngày 23-11-1946, ta bắt được một "Mật lệnh" của địch đề ngày 10-4-1946, do Valuy (Valluy Jean Etienne) gửi những đơn vị đồn trú. Chỉ thị khi có cơ hội lập tức tiêu diệt lực lượng cách mạng. Tháng 10-1946, sau khi gặp Đác-giăng-li-ơ (P.Georges Theirry D. Argenlieu) tại Cam Ranh, việc ngừng bắn theo Tạm ước 14-9 không thực hiện. Ngày 5-11-1946, Hồ Chủ tịch viết bài: "Công việc khẩn cấp bây giờ". Sau khi địch đánh chiếm Hải Phòng (23-11-1946), trong cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng, Bác nhấn mạnh: "Quân Pháp chỉ chờ cơ hội là lập tức đánh ta... Chúng ta hết sức khẩn trương chuẩn bị kháng chiến... Ở thành thị biến mỗi đường phố thành một chiến hào, ở nông thôn mỗi làng thành một pháo đài. Kháng chiến của ta sẽ toàn dân, toàn diện và trường kỳ". Điều đó có nghĩa, chúng ta đã biết rõ âm mưu quyết tâm xâm lược của kẻ thù và không thể tránh khỏi chiến tranh, bởi thế đã đề phòng. Ở Hà Nội, phương án tác chiến được xác lập chi tiết, từ quân số, vũ khí, đạn dược, lương thực, nước uống, thuốc men, bông băng cho từng khu, liên khu. Những dụng cụ như cuốc xẻng, xà beng, cọc sắt, những đội cứu thương, tiếp tế... đều được chuẩn bị sẵn.
Từ cuối tháng 11-1946, các thành phố, địa phương đều đã nhận được lệnh di chuyển kho tàng, xí nghiệp, cơ sở sản xuất vũ khí ra ngoại thành, về nông thôn, lên rừng núi. Từ sau đêm 19-12, tiến hành tổng di chuyển triệt để. Quân đội chính quy cũng được lệnh rút khỏi Hà Nội để bảo toàn lực lượng. Chỉ để lại các đơn vị Tự vệ chiến đấu, Công an xung phong, Vệ quốc đoàn phối hợp với nhân dân chống giặc.
Việc kìm chân địch lại thành phố là vô cùng quan trọng.
Các barier được dựng lên chặn ngang đường phố. Hầm hào chạy khắp nơi, tường nhà đục thông sang nhau. Các đội Cảm tử quân chiếm giữ trận địa sẵn sàng dùng bom ba càng kích nổ tiêu diệt xe tăng địch.
Đúng giờ, theo hiệu lệnh ta tổ chức tấn công trước.
Do được chuẩn bị chu đáo, lại ở thế chủ động, chúng ta rất tin có thể giam chân chúng ít nhất một tháng. Để cả nước có điều kiện chuyển sang chiến tranh. Nhằm thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, toàn quốc và trường kỳ như Bác Hồ nói.
Mặt khác, nhân dân ta có truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm. Thăng Long trước đây và Hà Nội ngày nay là biểu tượng ý chí cả nước. Mở đầu từ mặt trận Hà Nội với tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" sẽ tạo hào khí cứu nước cho toàn dân tộc.
Thực dân Pháp không ngờ một đội quân non trẻ mới thành lập được hai năm. Ban đầu chỉ vẻn vẹn 34 chiến sĩ, trang bị vũ khí rất thô sơ. Lại dám nổ súng tấn công vào đội quân hùng mạnh và thiện chiến của chúng. Địch càng bất ngờ đối phương mở mặt trận ngay trong lòng Hà Nội. Nơi mà chúng nhiều lợi thế, có thể sử dụng lực lượng lớn đè bẹp.
Chính cái "không thể ngờ" ấy, đã khiến địch phải lúng túng đối phó thụ động và giúp quân ta không chỉ giam chân chúng trong thành phố "ít nhất một tháng" (như Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp hứa với Bác Hồ), mà là hai tháng. Nhờ vậy, chúng ta đã tạo được ngay từ đầu ưu thế cho cuộc kháng chiến thần thánh của mình, để 9 năm sau giành thắng lợi vẻ vang.
Chiến công ấy có vai trò quan trọng của Bộ trưởng - Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp.
Thế kỷ 13, để chuẩn bị cho trận Bạch Đằng chống giặc Nguyên Mông, Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đã đến thị sát vùng cửa sông Bạch Đằng. Ông vào quán nước ở Bến Đò Rừng hỏi chuyện bà lão bán hàng rất lâu. Bà lão đã kể hết cho ông biết mọi địa hình núi non cao thấp, luồng lạch sông nước nông sâu, giao thông xa gần, giờ lên xuống của thủy triều...
Đầu tháng 4-1288, Ô Mã Nhi dẫn đoàn thuyền chiến  theo sông Bạch Đằng dồn dập tiến vào. Nhân lúc nước lớn thủy quân nhà Trần tràn ra giao chiến, rồi giả thua chạy. Ô Mã Nhi trúng kế thúc quân đuổi theo. Đúng khi thủy triều xuống, quân Đại Việt từ các phía dàn hàng trên sông chặn đầu địch. Hoảng loạn không kịp phản ứng giặc Nguyên bị giết rất nhiều, máu đỏ cả khúc sông dài. Tướng Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp bị bắt sống, tướng Phạm Nhan bị trảm quyết.
Bài học về nghiên cứu kỹ thực địa trước khi tổ chức trận đánh của Trần Hưng Đạo đã được Võ Nguyên Giáp luôn ứng dụng. Việc trực tiếp thị sát trận địa, đã giúp ông có những quyết định kịp thời, đúng đắn về chiến thuật, chiến lược, góp phần quan trọng đem lại thắng lợi.
Trong Chiến dịch Biên Giới, theo kế hoạch ban đầu, mục tiêu tấn công của bộ đội ta là thị xã Cao Bằng. Nhưng khi trực tiếp nghiên cứu trận địa Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp thấy rằng, từ Lạng Sơn lên Cao Bằng đường dài hơn một trăm cây số. Pháp xây dựng hệ thống đồn bốt lớn án ngữ, khống chế. Xét vị trí chiến lược, Đông Khê và Cao Bằng cách nhau khoảng 30km, đều quan trọng như nhau. Tuy nhiên, Cao Bằng là tỉnh lỵ nên địch phòng thủ chắc hơn. Gồm 3 tiểu đoàn lính lê dương và Ma Rốc, cùng lính bản xứ do Đại tá Charton phụ trách, trực thuộc Bộ Chỉ huy vùng đóng tại Lạng Sơn. Trong khi Đông Khê chỉ có 2 đại đội lê dương canh giữ dưới quyền hai đại úy người Pháp. Đánh Đông Khê sẽ nắm chắc phần thắng.
Ông chủ trương chọn Đông Khê làm mục tiêu tấn công thay cho Cao Bằng. Tập thể đồng ý.
Hoặc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau khi trực tiếp nghiên cứu thực địa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận thấy nếu tiến hành theo kế hoạch đã định, thì pháo binh của ta nhất định bị pháo địch đáp trả với số lượng súng và cơ số đạn áp đảo đè bẹp. Như vậy bộ binh sẽ làm mồi cho hỏa lực đại bác, máy bay và xe tăng đối phương. Thương vong chắc chắn rất lớn và chiến thắng vô cùng khó khăn.
Ông chủ trương thay đổi cách đánh. Hoãn thời gian tấn công, kéo pháo ra, chuẩn bị lại phương án tác chiến. Thay vì "Đánh nhanh, thắng nhanh" bằng "Đánh chắc, tiến chắc".
Các chủ trương ấy hoàn toàn đúng và đã góp phần quyết định thắng lợi.
Những năm cuối đời, dù đã ở tuổi ngoài 90 nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn rất minh mẫn, sáng suốt, có trí nhớ tuyệt vời và năng lực khái quát, đúc kết rất sâu sắc, khoa học. Ông dồn thời gian và công sức hoàn thành các trước tác "Tổng tập hồi ký""Tổng tập luận văn" rất đồ sộ. Đó là "Bộ binh thư" vô cùng giá trị đối với mọi thế hệ người Việt Nam, hơn thế, cả với nước ngoài.
Nhà sử học Mỹ, Dersk Frisby, viết: "Đối với phương Tây, di sản quân sự mà tướng Giáp để lại vẫn là một thứ mà họ phải xuýt xoa ngưỡng mộ.  Mặc dù chính bản thân nước Mỹ đã trải qua một cuộc "chiến tranh cách mạng" thành công vào cuối thế kỷ 18 để giành nền độc lập, họ vẫn bị thất bại trong cuộc "chiến tranh cách mạng" của nhân dân Việt Nam" từ những tác phẩm này "người Mỹ rất cần phải học những bài học từ Việt Nam". Ông K.Anggola, Bộ trưởng người Namibia, đại diện cho 23 đoàn khách châu Phi đến Việt Nam dự "Hội thảo Việt Nam - châu Phi" đã nói: "Trong suốt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, các nhà lãnh đạo Namibia luôn mang theo bên mình những cuốn sách của tướng Giáp về đấu tranh cách mạng". Thống chế Mehra, Tư lệnh các lực lượng Phòng không - Không quân Ấn Độ, nói: "Cuốn "Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử" của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là sách gối đầu giường của nhiều tướng lĩnh Ấn Độ".
Ông là một trong số rất ít người có uy tín lớn, sau Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nên việc kêu gọi, huy động các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ tham gia lực lượng vũ trang rất thuận lợi. Mọi người nô nức tòng quân giết giặc cứu nước. Mơ ước, tự hào được làm "bộ đội Cụ Hồ","lính của tướng Giáp". Được đội trên đầu chiếc mũ gắn ngôi sao năm cánh - biểu tượng của Tổ quốc - thể hiện lòng trung thành với nước, với dân - là ngôi sao soi đường cho lý tưởng sống chiến đấu của người lính cách mạng. Chưa đủ tuổi khai tăng tuổi, thiếu cân dấu gạch đá vào người cho đủ cân, không đủ chiều cao kiễng chân cho đủ. Ngày nhập ngũ coi như ngày hội. Việc tổ chức lực lượng hình thành ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định ngay từ khi thành lập "Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân". Đó là tiếp thu, kế thừa truyền thống tổ chức quân sự của lịch sử dân tộc, đặc biệt triều Trần. Dưới sự chỉ huy của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, lực lượng vũ trang gồm: quân chủ lực, quân cấm vệ, quân các lộ, quân các vương hầu, thanh niên trai tráng ở mọi bản làng cũng được tập hợp, trang bị, huấn luyện. Thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ.
Dưới quyền chỉ huy của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, quân đội nhân dân Việt Nam phát triển rất nhanh về mọi mặt. Quân số từ 34 chiến sĩ đã lên tới hàng triệu. Biên chế chỉ vẻn vẹn một đội, nay dưới Bộ Quốc phòng đã có một Bộ Tổng Tham mưu, 5 Tổng cục (Tổng cục Chính trị, Tổng cục Kỹ thuật, Tổng cục Tình báo, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng), Bộ Tư lệnh Thủ đô và 7 quân khu (Quân khu 1 - bảo vệ vùng Đông Bắc, Quân khu 2 - bảo vệ vùng Tây Bắc, Quân khu 3 - bảo vệ vùng Đồng bằng Sông Hồng, Quân khu 4 - bảo vệ vùng Bắc Trung bộ, Quân khu 5 - bảo vệ vùng Nam Trung bộ, Quân khu 7 - bảo vệ vùng Đông Nam bộ, Quân khu 9 - bảo vệ vùng Tây Nam bộ), 3 quân chủng (Quân chủng Lục quân, Quân chủng Hải quân, Quân chủng Phòng không - Không quân), 6 binh chủng (Binh chủng Pháo binh, Binh chủng Hóa học, Binh chủng Công binh, Binh chủng Tăng - Thiết giáp, Binh chủng Thông tin - Liên lạc, Binh chủng Đặc công), 4 quân đoàn chủ lực (Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng, Quân đoàn 2 - Binh đoàn Hương Giang, Quân đoàn 3 - Binh đoàn Tây Nguyên, Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long) và các đơn vị chức năng trực thuộc. Từ việc hội họp, học tập, huấn luyện trước đây phải thực hiện trong hang đá, dưới tán cây rừng, hoặc trong những ngôi nhà tranh tre nứa lá làm tạm. Nay có cả hệ thống học viện, trường đại học, trường sĩ quan từ thấp đến cao thuộc nhiều lĩnh vực. Từ trang bị rất thô sơ. Nay có đủ vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại: xe tăng thiết giáp, pháo tầm xa, radar, tên lửa, máy bay phản lực, tàu chiến, tàu ngầm... Từ tổ chức đánh đồn bốt nhỏ chỉ mấy chục lính khố xanh khố đỏ canh giữ, nay tổ chức đánh tan cả tập đoàn cứ điểm, mở những chiến dịch lớn quy mô nhiều sư đoàn, quân đoàn, gồm nhiều quân binh chủng phối hợp tác chiến. Giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định kết thúc chiến tranh...


 

 
Tất cả những thành tựu phát triển mạnh mẽ, to lớn suốt gần một thế kỷ ấy, Tổng Tư lệnh quân đội chỉ do một người. Đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Ông là vị tướng giỏi toàn diện ở các lĩnh vực. Là cấp dưới, ông tham mưu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị. Từ những kế sách lớn về đường lối quân sự, về xây dựng, tổ chức, trang bị, huấn luyện lực lượng vũ trang, về chiến thuật chiến lược, cho đến việc thay đổi cách đánh của từng trận, từng chiến dịch. Là cấp trên, ông tôn trọng, lắng nghe, phân tích, cân nhắc sử dụng những đề xuất của cấp dưới, chọn mưu cao, bỏ kế thấp. Một tướng thống lĩnh ba quân mà chỉ có thể suy nghĩ, tính toán từ góc độ quân sự thôi, chứ không giỏi tính toán từ góc độ mưu lược chính trị, ngoại giao, thì đó chỉ là võ biền. Vượt trên điều đó, ông là người có tầm hiểu biết sâu rộng, kết hợp các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao... Để tạo sức mạnh. Ông cũng là vị tướng giỏi về hậu cần và tình báo. Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến Pháp chịu thất bại ở Điện Biên Phủ, là do họ đánh giá thấp Võ Nguyên Giáp về nghệ thuật chỉ đạo cung cấp hậu cần và bị lừa bởi những tin tức tình báo giả ông cố ý tung ra.
Ông là tướng giỏi chỉ huy quân và cũng giỏi chỉ huy tướng. Giỏi cả chiến thuật và chiến lược. Giỏi cả tham mưu và tác chiến. Giỏi cả chỉ đạo chiến tranh du kích và chiến tranh hiện đại. Ông là Tư lệnh của các Tư lệnh. Chính ủy của các Chính ủy. Tướng của các Tướng. Lính của mọi người Lính. Là Anh Cả của Lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.
Đặc biệt, với cương vị Tổng Tư lệnh - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ông có vai trò rất quan trọng trong việc chỉ đạo thắng lợi cuộc chiến tranh nhân dân cả chống Pháp và chống Mỹ.
Chiến tranh nhân dân: là cuộc chiến tranh do nhân dân thực hiện, dưới sự chỉ đạo của một thủ lĩnh, một tổ chức hoặc thể chế. Thường nhằm chống lại giặc ngoại xâm đô hộ, giành độc lập dân tộc. Hoặc chống ngoại bang xâm lược để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và đem lại cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân. Khác với chiến tranh chỉ do quân đội thực hiện.
Chiến tranh nhân dân Việt Nam: đã có từ lâu đời. Thời kỳ Bắc thuộc, được thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Lê Lợi... Thời kỳ quốc gia độc lập, chiến tranh nhân dân được thể hiện qua các cuộc chống xâm lược bảo vệ chủ quyền lãnh thổ: triều Lý đánh bại giặc Tống, triều Trần ba lần đánh tan giặc Nguyên Mông, triều Tây Sơn Nguyễn Huệ đại thắng giặc Thanh...
Ở những giai đoạn lịch sử ấy, các triều đình phong kiến biết đặt lợi ích quốc gia và sự tồn vong dân tộc lên trên hết. Nên đã tập hợp được sự đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân. Mặt khác, nhân dân rất tin tưởng, coi triều đình là chỗ dựa để tạo thành sức mạnh vĩ đại chống giặc cứu nước.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp thu tư tưởng chiến tranh nhân dân vận dụng sáng tạo kinh nghiệm của cha ông trong lịch sử. Đã làm nên những thắng lợi quyết định trong cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.
Thiên tài quân sự của Võ Nguyên Giáp còn thể hiện ở đẳng cấp tư duy chiến lược biển đảo.
Từ thế kỷ XX thế giới bắt đầu bị đe dọa bởi sự cạn kiệt mọi tài nguyên trên đất liền. Đại dương là cứu cánh cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Biển không chỉ là hệ thống giao thông vận tải huyết mạch với quy mô toàn cầu, không chỉ là nguồn hải sản vô tận, là ưu thế quân sự, mà dưới đáy còn chứa đựng rất nhiều loại khoáng sản quý, đặc biệt dầu mỏ và băng cháy. Nguồn lợi từ biển sẽ là nguyên nhân giành giật khốc liệt giữa các quốc gia. Chiến tranh khó tránh khỏi và có xu hướng diễn ra trên biển.
Nước ta, một dải đất hẹp kéo dài hàng ngàn cây số. Lưng tựa núi và trước mặt là đại dương mênh mông. Việc dựng nước và giữ nước không thể coi nhẹ chiến lược biển đảo.
Bởi thế, ngày 7-5-1955 Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho thành lập Cục Phòng thủ bờ biển. Đánh dấu sự ra đời của quân chủng Hải Quân nhân dân Việt Nam. Dù tiềm lực kinh tế quốc gia còn hạn chế nhưng Đại tướng luôn rất quan tâm đến việc đầu tư phát triển lực lượng này.
Tư tưởng ấy xuyên suốt cuộc đời cầm quân của ông. Trong cuốn "Chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển", ông viết: "Nước ta có bờ biển dài, tài nguyên phong phú, sông ngòi nhiều. Vì vậy chúng ta cần có bộ đội Hải quân và lực lượng Hải Quân nhân dân, cùng toàn dân làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước cả ở trên sông và trên biển". Phát biểu với cán bộ và chiến sĩ nhân dịp kỷ niệm 15 năm thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam, Đại tướng nêu rất cụ thể: "Việc xây dựng lực lượng Hải quân phải gắn liền với xây dựng lực lượng vũ trang rộng rãi ven biển, ven sông. Sự phát triển của Hải quân có quan hệ chặt chẽ với các địa phương ven biển và các ngành kinh tế trên biển. Các lực lượng vũ trang địa phương ven biển, ven sông rất quan trọng. Cần chú ý xây dựng và bồi dưỡng để các lực lượng ấy trở thành rộng khắp, mạnh mẽ phối hợp đắc lực với Hải quân bảo vệ sông, biển". Về tư tưởng tác chiến ông chỉ rõ: "Có vùng ven biển, vùng biển gần, vùng quần đảo, vùng biển xa. Trong điều kiện Hải quân ta hiện nay trang bị kỹ thuật còn hạn chế, việc đánh địch ở ven biển, biển gần và các quần đảo cần hết sức coi trọng. Đồng thời với sự lớn mạnh của quân đội, của Hải quân, ta có thể mở rộng phạm vi đánh địch xa hơn". Chiến lược quốc phòng an ninh biển đảo phải gắn liền với phát triển kinh tế, ông nói: "Nền kinh tế ngày càng phát triển của nước ta có quan hệ mật thiết với việc xây dựng quân đội trong đó có Hải quân. Cơ sở vật chất kỹ thuật của Hải quân gắn liền với tiềm lực kinh tế quốc phòng. Tiềm lực kinh tế quốc phòng mạnh thì Hải quân mạnh". Sách hồi ký "Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng" ông dành riêng một chương "Giải phóng Trường Sa" mang tính đúc kết lý luận về chiến thuật, chiến lược biển đảo.
Ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột (Tây Nguyên 3-1975) Đại tướng Võ Nguyên Giáp kiến nghị với Bộ Chính trị: "Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo". Bộ Chính trị đồng ý bằng việc ban hành ngay Nghị quyết ngày 25-3-1975.
Ngày 2-4-1975 Đại tướng trực tiếp chỉ thị cho tướng Lê Trọng Tấn: phải nắm lực lượng Khu 5 và Hải quân để tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt quần đảo Trường Sa. Khi thấy quân đội Sài Gòn nguy khốn lập tức đánh chiếm. Trường hợp nước ngoài thừa cơ chiếm đảo thì ta kiên quyết chiếm lại. Không cho bất cứ kẻ nào xâm lược các nơi đó. Gặp khó khăn gì phải báo cáo Tổng Hành dinh. Đồng thời Đại tướng chỉ thị cho Bộ Tổng Tham mưu: điều ngay Sở Chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Hải quân vào Đà Nẵng tham gia tiếp quản căn cứ hải quân của Việt Nam Cộng hòa mà ta vừa giải phóng. Chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc đánh chiếm các đảo.
Chấp hành chỉ thị của Đại tướng, lực lượng đặc công nước của Hải quân kết hợp với cán bộ chiến sĩ các tàu không số giả danh tàu đánh cá xuất phát ra Trường Sa. Bằng chiến thuật, mưu trí đặc biệt, bí mật tiếp cận, nhanh chóng đổ bộ, bất ngờ tấn công đánh chiếm mục tiêu. Từ 14-4-1975 quân ta lần lượt làm chủ các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, An Bang... Đến 28-4-1975 ta chiếm toàn bộ sáu đảo do quân đội Việt Nam Cộng hòa kiểm soát. Đại tướng gửi điện động viên: "Nhiệt liệt khen ngợi các đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược".
Năm 1977, trên cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề xuất, chủ trì chỉ đạo chiến lược về Khoa học biển và Kinh tế biển. Nói chuyện với các nhà khoa học, ông nhấn mạnh: "Kinh tế vùng biển phải từ đất liền phát triển ra biển và các đảo. Đưa dân ra làm kinh tế biển vừa nâng cao đời sống của dân vừa có lực lượng để làm quốc phòng toàn dân giữ vững chủ quyền lãnh hải...Việc khai thác dầu khí ngoài biển Việt Nam đã là chuyện trước mắt. Việc sử dụng năng lượng thủy triều ở biển nước ta cũng phải đặt ra rồi. Độ chênh lệch của thủy triều biển nước ta chứa đựng tiềm lực quan trọng về năng lượng. Có thể có những kiểu máy điện thủy triều được không? Các đồng chí vật lý biển phải trả lời vấn đề này. Ngành cơ khí phải đi trước một bước. Ngành sinh vật biển phải chuyên sâu. Phải từ đặc điểm của từng vùng có những điều kiện vật lý như: nhiệt độ, độ mặn, ánh sáng... Rồi áp suất sóng, thủy động lực dòng chảy ra sao để kết luận xem những vùng nào có thế mạnh gì làm căn cứ cho định hướng phát triển kinh tế và quốc phòng an ninh...".
Ngày 14-3-1988 tàu chiến Trung Quốc tấn công các chiến sĩ Hải quân Việt Nam ở đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa. 64 chiến sĩ anh dũng hy sinh.
Tháng 6-1988 Ban Chấp hành Trung ương Khóa VI tổ chức cuộc họp về tình hình biển đảo Trường Sa. Đô đốc Hải quân và trưởng Ban Biên giới Chính phủ báo cáo.
Trong giờ nghỉ giải lao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại gần tấm bản đồ xem kỹ. Ông chỉ vào khu vực các bãi đá ngầm Tư Chính, Huyền Trân, Phúc Nguyên, Phúc Tần, Quế Đường... nằm trên thềm lục địa Việt Nam giữa Trường Sa và đất liền, nói với các cộng sự đứng bên: "Khu vực này cực kỳ quan trọng về chiến lược. Ta phải có biện pháp bảo vệ".
Thực hiện ý tưởng của Đại tướng, Ban Biên giới Chính phủ phối hợp với Bộ Quốc phòng và các ngành liên quan nghiên cứu vận dụng quy định của Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982, đề xuất xây dựng nhà giàn. Viết tắt là DK (chữ cái đầu của cụm từ Dịch vụ Kinh tế - Khoa học - Kỹ thuật) mang tính chất dân sự. Có các chân vững chắc và cao để bảo vệ và khai thác những bãi đá ngầm. Việc đó báo cáo lên Đại tướng và Trung ương Đảng. Được phê chuẩn bằng văn bản số 19/NQ-TƯ ngày 17-10-1988 về nhiệm vụ bảo vệ khu vực bãi ngầm trong thềm lục địa phía Nam. Tiếp đó ngày 5-7-1989 Chính phủ ban hành Chỉ thị số 180/UT về việc xây dựng cụm Dịch vụ Kinh tế - Khoa học - Kỹ thuật bao trùm lên các bãi đá ngầm thềm lục địa phía Nam.
Từ ý tưởng sáng suốt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đến nay ta đã có 15 nhà giàn DK, trụ vững kiên cường trước bão tố và mọi thử thách. Khẳng định sự hiện diện người Việt Nam trên chủ quyền lãnh thổ của mình.
Trong bức thư đề ngày 03 tháng 01 năm 2004 gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết:
"... Lãnh thổ nước ta không chỉ có vùng đất liền mà còn có cả vùng lãnh hải. Chúng ta có nhiệm vụ bảo đảm chủ quyền quốc gia không những trên bộ, trên không mà cả trên vùng lãnh hải. Vùng lãnh hải với thềm lục địa, đặc quyền kinh tế và an ninh quốc phòng có tầm quan trọng ngày càng lớn.
Các nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, coi thế kỷ XXI là thế kỷ của biển và đại dương. Nhiều nước đã hoạch định chiến lược tổng thể về biển với những chủ trương và chính sách cụ thể liên quan đến chủ quyền lãnh hải, an ninh kinh tế và an ninh quốc phòng. Trung Quốc xác định: mở rộng không gian sinh tồn, việc tiến ra biển khơi, khai thác nguồn tài nguyên biển liên quan đến khả năng tiếp tục phát triển và sự tồn vong của dân tộc Trung Hoa. Trung Quốc đang ra sức tăng cường lực lượng hải quân và không quân để giành quyền kiểm soát trên không và trên biển ở khu vực Tây Thái Bình Dương, Biển Đông và luôn khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Nhật Bản khẳng định quốc sách bảo đảm tuyến giao thông trên biển 1.000 hải lý. Mỹ coi việc bảo đảm tuyến đường vận chuyển nối liền Tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương là một bộ phận quan trọng trong chiến lược địa lý - chính trị và chiến lược quốc gia về chủ quyền an ninh trên biển.
Mục tiêu địa lý - chính trị phức tạp của các nước Châu Á - Thái Bình Dương gắn liền với cuộc đấu tranh giành giật chủ quyền lãnh hải và khai thác tài nguyên ở biển và đại dương sẽ tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi cục diện chiến lược khu vực và toàn cầu trong thế kỷ XXI.
Tôi đề nghị cần sớm nghiên cứu xây dựng chiến lược toàn diện về lãnh hải của nước ta từ nay đến 2010 và 2020 trên nguyên tắc kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng an ninh. Đồng thời có kế hoạch triển khai từng bước thiết thực và có hiệu quả.
Cần có một cơ quan Nhà nước mang tính liên ngành để lãnh đạo và điều phối chung các hoạt động kinh tế và quốc phòng trên vùng lãnh hải.
Trước mắt cần tổ chức các đội tàu, thuyền đánh bắt cá và khai thác tài nguyên xa bờ, kết hợp với lực lượng hải quân để giữ vững chủ quyền và an ninh trên vùng lãnh hải và quần đảo Trường Sa, không để cho các tàu thuyền nước ngoài xâm phạm...".
Những năm gần đây tình hình tranh chấp Biển Đông không ngừng phức tạp và căng thẳng. Nhất là từ khi Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế ngang nhiên công bố "Đường lưỡi bò 9 đoạn", chiếm quần đảo Hoàng Sa, đưa giàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm lãnh hải Việt Nam, chúng ta càng nhận thấy chỉ đạo chiến lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về biển đảo thể hiện tầm tư duy xa, rộng, sâu sắc từ bộ óc kiệt xuất một Danh tướng.
Với vai trò Tổng Tư lệnh quân đội - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã góp phần rất quan trọng làm nên những chiến thắng lớn có ý nghĩa quyết định trong cả hai cuộc cách mạng chống Pháp và chống Mỹ. Đó là: Mặt trận Hà Nội kìm giữ quân địch suốt hai tháng trong thành phố, tạo thuận lợi để cả nước chuyển sang thời chiến. Chiến dịch Việt Bắc làm phá sản ý đồ đối phương nhằm đánh phá "Thủ đô kháng chiến" tiêu diệt cơ quan đầu não của Việt Minh. Chiến dịch Biên Giới mở thông đường liên vận qua Trung Quốc đến các nước cùng phe Xã hội chủ nghĩa. Chiến dịch Điện Biên Phủ quyết định kết thúc chiến tranh với Pháp đem lại hòa bình cho nửa nước, mở ra cao trào cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới. Chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" đập tan cuộc tập kích chiến lược của không lực Hoa Kỳ buộc đối phương phải ngồi đàm phán và ký kết "Hiệp định Paris về Việt Nam", rút hết quân đội Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam và chấm dứt ném bom đánh phá miền Bắc. Chiến dịch mùa Xuân năm 1975Chiến dịch Hồ Chí Minh quyết định thắng lợi hoàn toàn cuộc chiến tranh cống Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Tất cả những chiến thắng ấy, đã đưa tên tuổi Võ Nguyên Giáp lẫy lừng khắp thế giới với tư cách một danh tướng kiệt xuất. Hội đồng khoa học Hoàng gia Anh và Tân Bách khoa toàn thư của nước Anh vinh danh ông là một trong 10 nhà quân sự lỗi lạc nhất của mọi thời đại. Cùng với: Alexan Dros, Hanibal Barca, Julius Cesar, Thành Cát Tư Hãn. Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, Olive Cromwell, Napoleon Bonaparte, Mikhaiin Kutuzov, Geogry Zukov. Hội Khoa học lịch sử Việt Nam vinh danh ông là một trong bốn danh tướng của dân tộc cùng với Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung Nguyễn Huệ. Tính đến khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời thọ 103 tuổi, đã có tới hơn một trăm cuốn sách của tác giả cả trong và ngoài nước viết về ông, đánh giá ông rất cao với cảm quan ca ngợi và khâm phục.
Nền tảng nào đã làm nên thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp?
Lòng yêu nước.
Đó là yếu tố quyết định cả sự nghiệp và cuộc đời ông. Lòng yêu nước là động lực khiến ông say mê nghiên cứu lịch sử, nhất là lịch sử chiến tranh. Về các trận đánh nổi tiếng thế giới và các nhà quân sự lỗi lạc, cùng các loại binh pháp. Lòng yêu nước là động lực khiến ông dồn tâm huyết và công sức cả cuộc đời để trang bị cho mình mọi kiến thức cả lý luận lẫn thực tiễn về quân sự. Lòng yêu nước là ngọn lửa đốt cháy trái tim ông khát vọng sẵn sàng dấn thân vào cuộc đấu tranh cách mạng để giải phóng dân tộc, đem lại cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân. Lòng yêu nước là nền tảng cơ bản làm nên thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp.
Tài năng bẩm sinh về quân sự được tạo hóa ban tặng.
Đó là những tố chất đặc biệt mà không phải ai muốn cũng có. Tố chất ấy là gì, khoa học vẫn chưa lý giải đầy đủ được. Tuy nhiên, khẳng định điều đó là thật. Thiên tài quân sự bẩm sinh, lại được nuôi dưỡng bởi lòng yêu nước nồng nàn và ý chí, bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng, đã góp phần làm nên thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp.
Được Bác Hồ phát hiện và trọng dụng đúng vị trí.
Bác Hồ là bậc thiên tài ở nhiều lĩnh vực, trong đó có khả năng đặc biệt: hiểu người và biết dùng người. Với đôi "mắt thần", bằng cả cảm tính và lý tính trong giao tiếp và công việc, Bác Hồ đã nhận thấy ở Võ Nguyên Giáp hội tụ những tố chất, tư chất và bản chất một nhà quân sự tài năng. Nên ngay từ năm 1940, khi còn ở Quảng Châu (Trung Quốc), Bác đã hướng "Chú Giáp dành nhiều thời gian nghiên cứu quân sự". Đầu tháng 12-1944, Bác chỉ định Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm việc thành lập lực lượng vũ trang tập trung. Rồi năm 1945, Bác Hồ phân công Võ Nguyên Giáp làm Tổng Chỉ huy các lực lượng vũ trang cách mạng. Năm 1946, với tư cách Chủ tịch nước Bác ủy quyền Tổng Tư lệnh quân đội quốc gia và dân quân tự vệ. Năm 1948, Bác phong quân hàm Đại tướng - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Năm 1954, làm Tổng Tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Nghĩa là suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đều được Bác Hồ giao nhiệm vụ là người chỉ huy quân sự cao nhất. Ở cương vị ấy ông mới bộc lộ và phát huy hết tài năng.
Trong khi cùng thời với Võ Nguyên Giáp có các ông: Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn, Nguyễn Bình, Chu Văn Tấn...
Các nhân vật trên đều là những tài năng lớn, có học vấn, được đào tạo trong trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) danh tiếng, đều kinh qua thực tiễn và dạn dày trận mạc. Nhưng không được Bác Hồ chọn làm người đứng đầu lực lượng vũ trang. Mà vị trí quan trọng ấy, Bác lại giao cho Võ Nguyên Giáp, tuy  có hai bằng cử nhân Luật và Kinh tế, nhưng chưa từng được học qua trường quân sự nào, cũng chưa từng trải chiến trận. Ở cương vị ấy Võ Nguyên Giáp đã khẳng định mình trở thành danh tướng kiệt xuất. Không chỉ trong nước mà cả thế giới công nhận, kính trọng. Quả là Bác Hồ có đôi "mắt thần", hiểu người và biết dùng người. Phải chăng đôi "mắt thần" của Bác nhìn thấy trong số những tài năng ấy chỉ Võ Nguyên Giáp mới hội tụ khá đầy đủ những tố chất đặc biệt thuộc tiêu chí thiên tài quân sự mà tạo hóa ban tặng cần được giao trọng trách, đủ quyền hạn để thể hiện và khẳng định năng lực.
Khi trả lời câu hỏi: "Làm sao ông có thể trở thành một vị tướng lỗi lạc?" của nhà báo Dominique (Tờ L'Humanite' - Pháp), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đáp: "Điều này phải hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính Người đã chọn con đường binh nghiệp cho tôi".
Hoàn toàn đúng và Võ Nguyên Giáp rất xứng đáng tôn hiệu thiên tài quân sự.
Duncan Townson, tác giả cuốn "Những vị tướng lừng danh", viết: "Võ Nguyên Giáp là một trong 21 vị danh tướng của thế giới trong suốt 25 thế kỷ qua, từ thời Alexan Dros đến Hannibal, rồi đến thời cận hiện đại với Kutuzov, Zhukov... những người đã có chiến công tạo nên bước ngoặt của lịch sử quân sự".
Nhà sử học Derek Frisby, nhận xét một cách hóm hỉnh: "Võ Nguyên Giáp không quá nổi bật so với các tướng lĩnh khác trong lịch sử, vì ông đứng cao hơn họ".
Đại tướng Peter Macdonald, nhà nghiên cứu lịch sử quân sự người Anh, đánh giá: "Từ năm 1945 - 1975, cuộc đời Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, khiến ông trở thành một trong những thống soái lớn nhất của mọi thời đại. Với 30 năm làm Tổng Tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính trị ở cấp cao nhất, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có".
Trong sách "Bách khoa toàn thư quân sự" của Bộ Quốc phòng Mỹ (xuất bản năm 1993), có đoạn: "Tài thao lược của tướng Giáp về chiến lược, chiến thuật và hậu cần được kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao... Sức mạnh hơn hẳn về kinh tế, tính ưu việt về công nghệ cùng sức mạnh áp đảo về quân sự và hỏa lực khổng lồ của các quốc gia phương Tây đã phải khuất phục trước tài thao lược của một vị tướng từng một thời là thầy giáo dạy lịch sử".
"Là người tổ chức quân đội nhân dân, ông Giáp đã thực hiện được một sự tổng hợp độc đáo các học thuyết quân sự Mác-xít kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, vận dụng khôn khéo vào những điều kiện của một quốc gia có đất đai tương đối hẹp. Võ Nguyên Giáp đã chứng minh rằng ông có những đức tính ngoài tầm cỡ bình thường trên mọi lĩnh vực lớn của chiến tranh" (sách "Bách khoa toàn thư Pháp" mục từ về Võ Nguyên Giáp).
Tướng Marcel Bigeard, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp, viết: "Ông Giáp đã chỉ huy quân đội Việt Nam chiến đấu giành thắng lợi trong thời gian đặc biệt lâu dài suốt 30 năm, một kỳ tích chưa từng thấy. Không phải hiện nay mà muôn đời sau, tôi tin rằng cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mãi mãi là tấm gương, là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam".
Nhà sử học quân sự Mỹ Cecil Currey, đánh giá: "Ông là một thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ XX và một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của tất cả các thời đại. Ông Giáp là vị tướng duy nhất trong lịch sử hiện đại tiến hành chiến đấu chống kẻ thù từ thế vô cùng yếu, thiếu trang thiết bị, thiếu nguồn tài chính, dù mới đầu trong tay chưa có quân, vậy mà vẫn liên tiếp đánh bại tàn quân của Nhật, rồi sau đó đến quân đội Pháp, một đế chế thực dân số 2 và quân đội Mỹ, siêu cường thế giới... Ông Giáp là chuyên gia hiện hữu vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân... là một vị tướng hậu cần vĩ đại nhất của mọi thời đại".
Nhà báo kiêm sử gia người Mỹ Stanley Karnow, viết: "Tài năng chiến lược của tướng Giáp đã đặt ông vào ngôi đền của những nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại. Sau Hồ Chí Minh, ông là nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX... Ông ấy giống một vị Thánh".
Các tướng lĩnh Mỹ, khi nhắc đến Võ Nguyên Giáp thường gọi ông là "Tướng năm sao". Trong sách "Bách khoa toàn thư" của Pháp, Mỹ và nhiều nước trên thế giới, tên, hình ảnh và tiểu sử ông được ghi lại như một trong những vĩ nhân quân sự hiển hách nhất.
Để chuẩn bị cho cuốn Bách Khoa toàn thư nước Anh, Hội Khoa học Hoàng gia Anh đã tổ chức phiên họp ngày 2 tháng 2 năm 1984, để lựa chọn các tướng soái lừng danh thế giới xếp vào danh mục từ điển. Trong phiên họp có 478 nhà khoa học về lịch sử quân sự của các nước đã được mời đến dự và họ đề cử danh sách 98 thống soái của các nước trên thế giới, từ cổ đại đến ngày nay. Tại phiên họp, các nhà nghiên cứu đã tiến hành bỏ phiếu và lựa chọn được 10 vị thống soái nổi tiếng kiệt xuất nhất. Trong đó có hai người con ưu tú của dân tộc Việt Nam. Đó là Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn - một danh tướng lỗi lạc ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên ở thế kỷ XIII. Người thứ hai là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Kết quả cả Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn và Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đều được 100% tỷ lệ số phiếu. Trong khi danh tướng nước Phổ là Phơ-rơ-đê-rích (thời Trung đại) chỉ được 71% và Kutuzov, danh tướng nước Nga (thời Cận đại) cũng chỉ được 72%.
Còn rất nhiều những nhận xét, đánh giá vô tư, khách quan đầy ngưỡng mộ và kính trọng của các nhân vật nổi tiếng thế giới về Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Điều ấy chính là sự khẳng định thiên tài quân sự của ông trong lịch sử nhân loại.
 

 
Đắc Trung
 
 

 
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn