22:23 ICT Thứ tư, 13/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Phê bình

Tính giáo dục trong tuyển tập thơ 5 năm của Bộ môn Thơ Hội VHNT Nam Định (Phạm Ngọc Quang)

Thứ năm - 20/04/2017 10:02
Tính giáo dục trong tuyển tập thơ 5 năm
của Bộ môn Thơ Hội VHNT Nam Định.
 
Nhà thơ PHẠM NGỌC QUANG
 
Văn học nói chung, thơ ca nói riêng là những sáng tác bằng ngôn ngữ thể hiện tâm tư tình cảm, nhận thức của con người trước những hiện tượng tự nhiên và xã hội. Khi ra đời với tư cách một tác phẩm văn học, dù chủ quan, khách quan, dù nhiều dù ít những tác phẩm cũng đồng thời mang nhiều chức năng. Đó là chức năng nhận thức, chức năng giao tiếp, chức năng sáng tạo, chức năng định giá, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ….
Tập thơ tuyển 2010-2015 của 36 tác giả bộ môn thơ hội văn học nghệ thuật Nam Định xuất bản năm 2015 với tư cách là một tác phẩm ( một tuyển tập thơ) cũng không nằm ngoài quy luật đó, nghĩa là nó cũng mang đầy đủ các chức năng văn học.
Tuy nhiên, do ý định của người viết, trong khuôn khổ của một bài phân tích nhỏ chúng tôi chỉ xin lược điểm về tính giáo dục qua một số bài thơ trong tuyển tập.
Tính giáo dục của tập thơ không đúc kết thành những tín điều luân lý phải thế nọ phải thế kia, cũng không qua những châm ngôn, những khẩu hiệu mà giáo dục  bằng hình tượng thẩm mỹ mà cuốn hút hấp dẫn chuyển biến tư tưởng, nhận thức bạn đọc  một cách tự giác, hoàn thiện nhân cách một cách tự nhiên qua xúc cảm của nhà thơ.
Bài “ Về thăm ngoại ” (T.182) của Trần Gia Thịnh chưa hẳn là một bài thơ hay nhưng có ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc. Trong cuộc sống đô thị hóa tràn lan thời mở cửa, không ít kẻ đua đòi vong bản đã vô tình quên đi quê cội nghèo xưa, thậm chí chối bỏ cả ông bà cha chú còn lam lũ, bài thơ của anh như một tiếng reo vui rất đáng trân trọng. Mảnh vườn quê ngoại qua con mắt của nhà thơ thật đẹp lung linh.
 Sớm xuân giọt nắng vàng mơ
Cây đào vườn ngoại non tơ nụ hồng
Trời cao vời vợi mênh mông
Những con chim én lượn vòng chao bay
Quả na nhắm mắt ngủ say
Quất hồng cam bưởi ngất ngây dưới trời.
Nhưng đẹp hơn cả chính là tấm lòng của nhà thơ khi anh thốt lên:
Ngoại như cổ tích trong ngần
Cháu như chồi búp gọi thầm ngoại ơi
Bồi dưỡng tình cảm, giáo dục tình yêu quê hương gia đình , người thân là đấy chứ đâu xa.
Nguyễn Thị Kim Ngân lại nuôi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đồng bào đồng loại một cách nhẹ nhàng đầy nữ  tính.
“ Chưa kịp biết tên các loài hoa
Mà hương sắc đã lặn vào nỗi nhớ
Đi từ bến thương đến miền bỡ ngỡ
Nụ hoa nào hé nở dưới trăng?”
                                      ( Cõi mộng – T.98)
Để rồi “Đắm mình trong ngào ngạt hương hoa” nhà thơ nhận ra và nói lên và khơi gợi tình yêu cuộc sống trong mỗi con người:
Thêm nâng niu mỗi phút giây đang sống
Thắm thiết tình người, nồng ấm hồn hoa
                   ( Cõi mộng – T.98)
Có thể hơi dị ứng với cái ồn ào mà hời hợt chốn đô thị phồn hoa, Trần Văn Lợi lại gửi lòng mình về chốn ruộng đồng chân chất như ca dao, tục ngữ từ ngàn xưa
“ Mải mê với chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Thôi ta về với ruộng đồng
Lại gieo tục ngữ, lại trồng dân ca
Thỏa thuê cùng với cỏ hoa
Thong dong rau mắm, nhẩn nha mùa màng
Tiếng chào mở lối dọn hang
Bát cơm gạo mới thơm sang láng giềng
( Thôi ta về với ruộng đồng – T.90)
Do khuôn khổ của bài viết, tôi không bàn về cách dùng từ, đặt câu, sáng tạo hình ảnh của anh mà chỉ tìm xem lời thơ anh tác động đến ai, về cái gì và hiểu ra rằng, dù nói về ruộng đồng, “cỏ hoa”, “bến sông”, “ánh trăng”, “tiếng ếch”… gì đi nữa thì thông điệp anh gửi cho người đọc cũng chỉ cô đúc lại :
“Cõi người là chốn thiêng liêng
Quê hương là chốn bình yên đời mình”
                                      ( Thôi ta về với ruộng đồng – T.91)
Và thế là lại thêm một lời thơ khơi gợi, dắt dẫn ai đó còn nhạt lòng hãy nhớ bồi đắp tình yêu  với quê hương, đất nước.
Tình yêu quê hương trong thơ Hoàng Ngọc Trúc được lưu dấu nuôi dưỡng và hiển hiện trong những hình ảnh rất gần gũi thân thuộc, dung vị mà luôn lấp lánh hồn thơ. Anh yêu quê đến mức nhìn đâu cũng thấy thi vị. Đây là chiếc cổng làng trong tâm tưởng của anh:
Mái cong cửa gỗ đơn xơ
Chất dân gian quyện chất thơ ngọt ngào
Rêu phong mưa nắng xói bào
Nét hoa văn cổ lượn bao quanh tường
                   (Cổng làng – T.218)
Và đây là hình ảnh “ Giếng làng” anh gửi đến bạn đọc :
Cong cong hình bán nguyệt
Tường bao lượn ven bờ
Dưới bóng cây cổ thụ
Vừa đẹp lại vừa thơ.               
          Điều quan trọng là cái “Cổng làng”, “ Giếng nước” ấy qua thơ anh không còn là những vật thể vô tri mà trở thành nơi nuôi dưỡng tâm hồn, nơi khơi gợi và thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc:
Ôi! Cổng làng giếng nước
Ngôi đình với cây đa
Văn minh làng Việt cổ
Ơn đức dày ông cha
( Giếng làng – T.220)
Không chỉ bó hẹp tình cảm của mình với quê hương, không chỉ hướng người đọc tới tình yêu với quê hương, Đỗ Phú Nhuận còn hướng bạn đọc tới một tình cảm cao rộng trọn vẹn hơn, tình yêu đất nước.
Người trai Nam Định ấy không chỉ biết “ Quê hương: ông bà tiên tổ, xa gần ở tại lòng ta. Quê hương nhớ về các chị, chum tương, ruộng muống, vại cà” (Thưa cùng các chị - T.110) mà còn để lòng thổn thức với Hà Giang, còn ước được một lần lên Lũng Cú nơi địa đầu tổ quốc. Và anh đã đến, đã qua Mã Pí Lèng, Quản Bạ, Đồng Văn, Vị Xuyên… đã xúc động trước hy sinh của bao người con phá đá mở đường, đã đổ máu để giữ từng cột mốc biên cương. Anh tự nhắc mình cũng là nhắc mọi người “ Xin chớ vô tâm”. Đi giữa thanh bình anh vẫn chưa nguôi một thời đất nước mình đổ máu: “ Bất chợt dòng trong Nho Quế, miên man xanh giữa nắng hanh vàng, lớn nhỏ mà chi, dài ngắn mà chi, sông tự khẳng định mình, như Vị Xuyên một thời máu nhòe cột mốc” ( Thức với Hà Giang – T.113). Là bạn đọc tôi xin nhận từ thơ anh bài học về tình yêu đất nước.
Sâu xa da diết hơn là tình yêu đất nước trong “Lời ru mẹ Âu Cơ gửi đảo” của Nguyễn Thế Kiên. Truyền thuyết , thực tế , hiện tại , quá khứ, nhận thức, xúc cảm như dồn nén cả vào 24 câu thơ đặc quánh của Kiên nêu lên một bài học về tình yêu quê hương đất nước. Tôi rất thích bài thơ này. Cách tạo dựng hình ảnh thì rất thơ, chỉ có nhà thơ mới có cách liên tưởng và tư duy về biển đảo, về đất nước như thế:
Dẫn con về phía biển xanh
Thương cha mẹ khóc, lệ thành đảo xa
Mấy đời xẻ bảy chia ba
Sục sôi biển cứ thiết tha cùng người
                                              ( Lời ru mẹ Âu Cơ gửi đảo – T.271)
Nhưng thông điệp chuyển tải, những cảnh báo trong bài thơ thì thật sắc xảo, đau đáu một niềm đau đầy trách nhiệm:
Nhà ta kẻ cắp rập rình
Quên lời mẹ tưởng bình minh là hồng
Em cầm nón trắng sang sông
Phút nào đã thấy nổi giông bão về
Biển còn trăm nỗi tái tê
Lời cha ông dẫn lối về mai sau
Trời xanh còn ở trên đầu
                   Mấy ngàn năm đã cũ đâu kẻ thù                         
                                                ( Lời ru mẹ Âu Cơ gửi đảo – T.272)
Quả là một lời dạy hữu ích cho lớp trẻ vô tư và cả những người lớn vô tâm trước hiện tình đất nước.
Nhiều bài trong tập thơ còn thể hiện tính hướng thiện, mang nội dung giáo dục nhân ái nhân văn, bồi dưỡng nhân cách khá rõ nét. Không dài dòng trong diễn đạt cũng chẳng cầu kỳ trong chọn từ sắp chữ, chỉ giản dị như ánh nhìn của một người thân ngày ngày giáp mặt một người thân. Bài “Cây đa cho và nhận” của nhà thơ Hoàng Trung Hiếu lại hướng cho bạn đọc, lại dạy cho  bao học trò
( tôi nói vậy vì Hoàng Trung Hiếu vốn là một nhà giáo có hơn 40 năm giáo nghiệp) một tình cảm nhân văn trong sáng đó là lối sống vì mọi người:
Nhận bao mưa nắng không đầy
Cho bao râm mát chẳng đầy chẳng vơi
Lặng thầm đa cứ vậy thôi
Để cho cái kiến có nơi tự tình
                                      ( Cây đa cho và nhận T.252)
Cách giáo dục nhân cách, nuôi dưỡng tâm hồn trong thơ Nguyễn Chí Dũng lại rất đặc biệt. Có khi anh dùng ngay những sự việc hiện tượng xã hội đang nhan nhản trước mắt, hàng ngày làm “ Con thuyền chở đạo”, thậm chí anh chọn ngay những cái trái chiều đặt vào một tương phản để khẳng định, để giáo huấn:
Người ta mua chức sắc
Mua tình yêu
Mua học hàm học vị
Mua lòng tin của những ai nhẹ dạ
Dễ như trẻ con mua mặt nạ ngày trung thu
Nhưng
Người ta
Không thể mua nhân cách
( Mua – T.24)
Nói tưng tửng vậy thôi mà là giáo dục đấy, ai cho qua thì cứ cho qua, ai muốn học thì học được rất nhiều.
Chứng kiến một hiện tượng xã hội rất bình thường, trẻ con chêu trọc người ăn xin, Phạm Ngọc Quang chạnh nhớ lời ca dao xưa “Ăn mày là ai, ăn mày là ta, đói cơm rách áo hóa ra ăn mày” và anh cảm thương xa xót cho những kiếp người cơ khổ. Khả năng nhà thơ có hạn chẳng thể “ tế độ” cho ai, cũng chẳng muốn mơ giấc mơ hão huyền “mơ có ngôi nhà trăm vạn gian che cho những người cơ nhỡ”, anh chỉ biết dùng lời thơ dạy cho con cháu trong nhà bài học ban đầu về lòng trắc ẩn nhân ái, nhân văn. Không đao to búa lớn, khoát luận cao đàm, nhà thơ chỉ nhẹ nhàng nhắc nhở:
Cháu đừng cười cợt người ta
Tuổi đời họ cũng đã già như ông
Chắc là số kiếp long đong
Sa cơ lỡ vận nên không có nhà
Thân còm tứ xứ bôn ba
Ngửa tay cúi mặt nghĩ mà xót thương
                                                                   ( Dặn cháu – T.131)
Nhẹ nhàng là phải thôi, lòng nhân ái tình thương không phải tự nhiên mà có, nó phải được nuôi dưỡng nhưng cũng không thể áp đặt một cách cứng nhắc, hô hào một cách hình thức.
Nhà thơ cũng không chỉ giáo dục xuông, không khơi gợi tính nhân văn chiếu lệ mà còn định hướng hành vi cho các cháu, cho bạn đọc một cách cụ thể:
Giúp người đừng có băn khoăn
Giúp người đừng có lần khân cò kè
Ba năm tu gốc bồ đề
Không bằng một chút sẻ chia tình người
Người ta đi nhặt cơm rơi
Mình no đủ chớ có cười người ta
( Dặn cháu – T.132)
          Nguyễn Thấn lại khơi gợi sự cảm thông chia xẻ với những thân kiếp cần lao đang ngày ngày lăn lộn mưu sinh
Khi đầu thúng khi vai gồng
Xộc xệch nơi phố, đèo bồng nơi quê
Tiếng rao ướt nẻo đi về
Sáng khan khản giọng, chiều khê khết lời
                                      ( Người bán hàng rong trên phố - T.170)
          Không có tấm lòng vị tha xẻ chia thấu hiểu thì sao thi nhân lại ghi được những hình ảnh động lòng ấy, làm sao lắng được những “ Tiếng rao thấu nỗi dặt dèo phố đông”.
          Trong bài “Không đề” Nguyễn Thế Hùng lại gián tiếp dạy cho người đời hai chữ khiêm cung, gián tiếp giúp cho ai đó giật mình tỉnh ngộ  mà tu rèn nhân cách.
Người lên cung trăng
Chưa cậy mình tài
Anh trèo lên cây
Khoe mình leo giỏi
Chân trượt ngã
Thân anh thành dấu hỏi
Hỏi đất?
- Đất dày
Hỏi cây?

 
  • Cây không nói
( Không đề - T.69)
          Thế Hùng cũng không nói, anh chỉ dửng dưng chứng kiến và ghi lại một sự thật (có thể do anh tưởng tượng ra) nhưng qua những câu thơ anh bạn đọc đã nhận được lời nhắc nhở thật sâu sắc, ý nhị.
          Trần Thị Bích Liên lại giáo dục nhân cách qua sự bộc bạch rất riêng. Chỉ  qua 4 câu thơ giản dị:
Làm dâu giữ nết thảo hiền
Thơ xanh vẫn mọc từ miền gia phong
Dãi dầu thức với trắng trong
Nén hương vặn khói mà lòng quặn đau
( Thơ xanh – T.840)
          Nhà thơ đã bộc lộ cảm xúc rất chân thành của mình và cảm xúc đó đã tác động đến bạn đọc hơn rất nhiều lời răn dạy về đức hy sinh, về đạo làm người.
 
          Còn có thể dẫn ra rất nhiều câu thơ, nhiều bài thơ (trong tập thơ 2010-2015 của bộ môn thơ hội văn học nghệ thuật Nam Định) mang nội hàm giáo dục đa dạng . Nhưng thôi, hãy để cho bạn đọc lần dở chiêm nghiệm và rút ra bài học cho mình qua mỗi trang thơ của từng tác giả trong tuyển tập này. Bởi một lẽ, “ Lời hay ai chẳng ngâm nga, trước là thuận miệng sau ra thuận lòng”.
          Sức mạnh giáo dục của thơ ca chính là vậy đó!

 
                                                                            
Vụ Bản, tháng 08 năm 2015
Phạm Ngọc Quang
 

 
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn