07:49 ICT Thứ năm, 14/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Sân Khấu

Tìm hiểu giá trị của chèo và đề xuất một số giải pháp bảo tồn nghệ thuật chèo ở Nam Định (Trần Đình Huy)

Thứ năm - 14/05/2015 20:40

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ CỦA CHÈO
VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
BẢO TỒN NGHỆ THUẬT CHÈO Ở NAM ĐỊNH

 
 
Chèo là loại hình nghệ thuật có từ xa xưa trong nền văn hoá Việt Nam. Đây cũng là một nét tiêu biểu trong văn hoá ứng xử của dân tộc. Tìm hiểu giá trị của sân khấu chèo cho chúng ta hiểu về một góc của nền văn hoá dân tộc đồng thời từ đó tìm hướng đi để gìn giữ, bảo tồn và phát triển nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước ta hiện nay và mãi về sau.
 
1. Giá trị của chèo
1.1. Giá trị lịch sử
Chèo là một bộ môn nghệ thuật được hình thành từ rất lâu đời. Điều đó được chứng minh trong các chứng tích cổ còn lưu giữ lại được ghi khắc trong sử sách, bi ký qua các đời Ðinh, Tiền Lê, Lý đến cuối Trần.
Lịch sử Việt Nam cho biết trong các thời đại Đinh Tiên Hoàng, thời nhà Tiền Lê, Lý, Trần đã có những hoạt động nghệ thuật dân gian như nhảy, múa, ca hát, bơi thuyền... chèo có thể là một bộ phận nghệ thuật ca múa song song với các môn ca múa khác với những “nghệ sĩ dân gian” tụ họp lại thành phường hội do những yêu cầu nghiệp vụ . Qua các triều đại, Chèo ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn, chèo không chỉ phát triển và thịnh hành trong cung đình mà nó còn ăn sâu vào phong tục, nghi lễ của con người trong đời sống hàng ngày.  Song với các môn ca múa khác với những “nghệ sĩ dân gian” tụ họp lại thành phường hội do những yêu cầu nghiệp vụ . Qua các triều đại, Chèo ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn. Chèo không chỉ phát triển và thịnh hành trong cung đình mà nó còn ăn sâu vào phong tục, nghi lễ của con người trong đời sống hàng ngày.
Nghệ thuật sân khấu chèo đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài từ khoảng thế kỉ thứ 10 tới nay đã đi sâu vào xã hội Việt Nam. Bởi trong chèo phản ánh đầy đủ mọi góc độ của bản sắc dân tộc Việt Nam: lạc quan, nhân ái, yêu cuộc sống yên lành, bình dị, nhưng tràn đầy tự hào dân tộc, kiên cường đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc thân yêu . Cũng chính vì nội dung tư tưởng lành mạnh đó mà trong chèo có đầy đủ các thể loại văn học: trữ tình lãng mạn, anh hùng ca, sử thi, thơ ca giáo huấn (giảng kinh truyện, khuyên đạo đức)... hơn hẳn các loại hình nghệ thuật khác như tuồng, quan họ…
Cùng những thăng trầm của lịch sử dân tộc, Chèo đã tự mình vận động và phát triển phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử để kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển nội tâm của con người cá thể, và mỗi ngày một thêm hoàn chỉnh về giai điệu, nhuần nhuyễn tinh vi về lời hát, lời thơ, đã trở thành một một bộ phận văn học vô cùng quý báu của dân tộc.
Chèo là món ăn tinh thần đã xâm nhập sâu rộng vào trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc ta. Chèo không những mang đến sự yêu thích cho người dân mà đến thần linh cũng thích. Ở những lễ hội tại những đình, miếu, đền trong không khí linh thiêng, thâm nghiêm, các vị thần thưởng thức những làn điệu chèo trong sự tôn kính của các con dân. Ngay trong đời thường nhật mỗi khi có dịp vui, như dịp khao làng, khao thọ, khao được thăng chức, khao thi đỗ thì người ta cũng vời những nghệ sĩ chèo. Hay đơn giản là trong những lúc nhàn rỗi, hay đang lao động mệt mỏi người ta cũng cất lên những làn điệu chèo để xua đi những sự mệt mỏi. Cũng khi có chuyện buồn thì những lời ca tiếng hát, vần thơ để sẻ chia tâm sự, để hoà mình vào thế giới nội tâm sâu thẳm của những tri âm. Chèo thực sự đã đồng hành cùng tâm hồn và văn hóa của người Việt. Trải qua bao thăng trầm, biến đổi của lịch sử chèo ngày càng hoàn thiện và chiếm phần quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.
1.2 Giá trị nghệ thuật của chèo
Chèo là một hình thức sân khấu dân tộc xuất hiện và phát triển trong sinh hoạt văn hóa của người dân, là một nghệ thuật tổng hợp. Phải được tai nghe các điệu hát, mắt thấy các cảnh trên sân khấu, các động tác cử chỉ của nhân vật... thì mới hiểu thấu nội dung và nghệ thuật của chèo.
Có thể khẳng định: chèo là một lối kể truyện bằng sân khấu và do đó chèo cũng giữ được đặc tính của lối kể chuyện trong dân gian. Tác giả chèo dựa vào những sự tích vốn có trong các truyện cổ tích, truyện nôm, mà dựng nên vở. Hoàn cảnh không gian và hoàn cảnh thời gian trong chèo cũng tự do như hoàn cảnh không gian và thời gian trong truyện cổ tích, sinh động và tiến triển rất nhanh. Một vở chèo có khi gồm hàng chục cảnh khác nhau, và diễn lại một sự tích dài hàng ba năm, dăm bảy năm.
Trong chèo, từ nội dung lời ca, lối múa và âm thanh nhạc khí của chèo, cho đến lề lối hát và động tác múa của đào kép ..., với phối khí của nhịp trống, đan lẫn với tiếng đàn, tiếng sáo, tiếng mõ . Tất cả âm thanh tượng hình ấy, đều mang tải tâm hồn trong mỗi câu thơ, mỗi lời hát của tác giả. Đào - Kép hát múa thể hiện bằng nhấn nhá, luyến láy, buông chữ, nhả chữ, không được sai âm, méo từ, và ở mỗi câu hát lại được đệm thêmnhững từ “ấy này”, “bây giờ”, “để mà”, “í ì a”, đan lẫn vào trong các câu thơ. Những làn điệu chèo chủ yếu mang tải nội dung ca ngợi nghĩa khí cao đẹp, tấm lòng thủy chung của người phụ nữ, phản ánh những cái thiện, cái đẹp trong cuộc sống.
Nói đến nghệ thuật chèo, trước tiên phải nói đến những câu thơ sâu lắng và ý tình, từ hiện thực cảnh vật sống động, chứa đựng trong nội dung bài thơ ấy. Để tạo ra tiếng ca, tiếng nhạc độc đáo làm nên nghệ thuật chèo thì cần phải có: một là những lời thơ, hai là những lời hát của những người nghệ sĩ tài ba, ba là nhạc đệm của trống, sênh tiền, đàn nguyệt....
Ngày xưa hát múa ở cung đình đều do vua chúa và quan trong triều chế tác, cùng Bộ Lễ sắp xếp, nhằm chúc tụng đăng quang, chúc Quân vương trường thọ, hay mừng công chiến thắng, mừng cảnh thanh bình. Còn hát múa  sân đình hầu hết là hát những bài thơ, bài kinh, bài truyện có sẵn. Biểu diễn nhằm phục vụ dân làng, hay vừa múa hát theo các tiết mục hành lễ. Cái bất ngờ nhất là càng tìm hiểu sâu thì mới thấy chèo thực sự là hình thức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp độc đáo của Việt Nam. Chèo bao hàm rất nhiều hình thức nghệ thuật trong đó có nghệ thuật ca hát, nghệ thuật múa và nghệ thuật trình diễn. Chính những hình thức này đã làm nên nét độc đáo trong chèo.
1.3 Giá trị hiện thực của chèo
Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian, ra đời và phát triển găn với sinh hoạt văn hóa của con người. Cũng chính vì vậy mà trong chèo phản ánh một giá trị hiện thực sâu sắc. Chèo là tấm gương phản ánh xã hội ta ngày trước, xã hội Việt Nam thời phong kiến, trong chèo đã vạch rõ hiện thực sâu sắc nhất của xã hội đó là mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân, giữa chính quyền và nhân dân, luôn đứng về phía nhân dân, những người nghèo khổ, vạch trần những mặt trái của bọn thống trị. Với cách sắp sếp lớp lang với những nhân vật sống, với những điệu múa lời ca, dưới ánh sáng tập trung của hình thức sân khấu, chèo đã làm cho nội dung nhân đạo chủ nghĩa của các truyện kia thể hiện rõ rệt trước mắt ta.
Chèo có những vai chín và vai lệch. Vai chín là những nhân vật tích cực, thường là những người nghèo khổ hoặc ở vào một địa vị bị áp bức. Vai lệch tức là những nhân vật tiêu cực, thường là những người nghèo khổ hoặc ở vào một địa vị bị áp bức. Vai lệch tức là những nhân vật tiêu cực, thường là những kẻ giàu có đi áp bức người khác và bọn tay sai của chúng. Chèo quan niệm người nghèo khổ,người lương thiện là những người có phẩm chất tốt nhưng lại hay gặp chông gai ở một xã hội đầy bất công.Tuy vậy, dù gian nan, họ vẫn giữ chí khí kiên quyết, lương tâm trong sạch, còn những tên độc ác bất nhân đều bị trừng trị. Lòng yêu thương con người, đề cao phẩm chất con người được thể hiện rõ trong chèo. Tinh thần nhân đạo chủ nghĩa còn rõ rệt ở chỗ chèo chú ý nêu rõ sự cao quý ở những con người mà giai cấp phong kiến coi là thấp hèn. Trong chèo người phụ nữ được nâng lên địa vị cao quí mà ý thức hệ phong kiến không bao giờ công nhận. Người phụ nữ trong các vở chèo chính là người phụ nữ lao động Việt Nam. Đề cao phụ nữ là một mặt quan trọng của tinh thần nhân đạo chủ nghĩa trong chèo. Nếu như trên sân khấu bao giờ ít nhiều cũng có tính cách điệu, thì sân khấu chèo đã có nhiều tính chất cách điệu. Tác giả cũng như diễn viên lựa chọn trong hiện thực những cái gì bản chất nhất, tước bỏ đi những gì không tiêu biểu, và phóng đại, nhấn mạnh những gì tiêu biểu nhất. Chèo cũng như các thể loại khác có ý nghĩa đấu tranh giai cấp rõ rệt: chèo đã dùng lợi khí trào phúng để đả kích bọn cường hào ác bá; chèo sử dụng mọi khả năng khêu gợi tiếng cười để đấu tranh... Nhân dân có dịp ngàn ngón tay cùng trỏ, ngàn con mắt cùng nhìn, ngàn tiếng cười cùng vang lên khoái chí để khinh miệt những cái chướng tai gai mắt của bọn thống trị mà chèo đưa lên sân khấu như tấm bia chịu nhiều mũi tên bắn vào.
 Chèo là một ngành nghệ thuật do quần chúng sáng tạo ra, cải tiến dần theo nhu cầu của quần chúng. Vì vậy chèo mang tính dân tộc và nhân dân sâu sắc. Vẻ đẹp của chèo là vẻ đẹp của âm thanh chau chuốt, nuột nà mà người diễn trao cho người nghe, vẻ đẹp của những điệu múa dân tộc uyển chuyển của những chiếc quạt mà người nghệ sĩ biểu diễn. Chính vì vậy chèo là một di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của dân tộc Việt Nam, góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa nghệ thuật của dân tộc cũng như những giá trị về nghệ thuật, giá trị về lịch sử, giá trị hiện thực của chèo, tất cả đều nhằm khẳng định rằng đây là một di sản văn hóa quí báu mà ông cha ta đã để lại cần phải được các thế hệ mai sau tiếp tục giữ gìn, bảo tồn và phát huy. Để có thể tiếp nối cha ông gìn giữ loại hình nghệ thuật này, các thế hệ sau cần phải có những biện pháp cụ thể để có thể phát huy truyền thống dân tộc. Và khai thác nghệ thuật chèo một cách hiệu quả trong phát triển du lịch cũng là một biện pháp quan trọng góp phần bảo tồn và giới thiệu sâu rộng hơn nữa loại hình nghệ thuật sân khấu đặc sắc này đến với công chúng trong và ngoài nước.

 

Tiết mục biểu diễn "Ba giá đồng" của Nhà hát Chèo Nam Định.
 

2. Một số biện  pháp bảo tồn nghệ thuật Chèo Nam Định
Nghệ thuật chèo là một loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc cần được bảo tồn. Để chèo được khôi phục và phát huy những giá trị to lớn của nó, chúng ta luôn phải đề ra những biện pháp để bảo tồn loại hình nghệ thuật này. Song để thực hiện được điều đó cần phải có thời gian lâu dài, nguồn kinh phí khổng lồ, sự nỗ lực của các ban ngành chức năng và của toàn xã hội.   Để bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật này với tư cách là một cá nhân, người viết xin đề xuất một số ý kiến để công tác bảo tồn đối với nghệ thuật Chèo nói chung và nghệ thuật chèo Nam Định nói riêng được hiệu quả hơn.
2.1. Mở các lớp đào tạo nghệ thuật Chèo
Để nghệ thuật sân khấu chèo có thể lưu giữ và phát triển bền vững, cần thiết phải có những thế hệ kế thừa những thành tựu của cha ông. Muốn vậy phải mở ra các lớp, những chương trình đào tạo về nghệ thuật chèo. Việc dạy và học nghệ thuật chèo phải được thường xuyên liên tục, để các giá trị không bị đứt đoạn theo thời gian. Về phương pháp truyền dạy, cần duy trì và coi trọng phương pháp truyền khẩu, truyền ngón nghề trực tiếp. Có nghĩa là các nghệ nhân sẽ trực tiếp dạy từng cách đánh trống, đánh đàn, gõ từng nhịp mõ , hát từng câu chữ cho các học viên.
Với phương thức dạy đó, sẽ tạo thuận lợi cho người học. Người học có thể cảm nhận, nắm bắt trực tiếp mọi sắc thái tinh tế của tác phẩm từ người thầy từ thang âm, phương thức vận hành giai điệu, cho đến từng bước đi của nhịp điệu.
Ngoài ra, việc đào tạo phải luôn đi đôi với chất lượng. Không thể đào
tạo ồ ạt, nhanh chóng, cho ra nghề những nghệ nhân chưa đạt tiêu chuẩn. Thực trạng hiện nay một số lớp đào tạo, nghệ sĩ ra trường không phải tất cả ai cũng có thể sử dụng được tất cả những gì đã học được trong trường để hành nghề ca hát. Hầu hết số nghệ sĩ ra trở về nhà hát thì số người có thể đi biểu diễn chiếm phần rất nhỏ, phần còn lại được phân bổ vào các bộ phận phòng ban. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải có những lớp đào tạo chất lượng, nên đào tạo theo kiểu "nhỏ mà tinh" có nghĩa là mỗi năm chỉ cần cho ra nghề một số lượng nghệ sĩ nhỏ nhưng chất lượng cao. Đào tạo có định hướng có nghĩa là những người có tố chất, phù hợp với những vai đào chín, hay đào lệch thì chỉ đào tạo theo hướng đó là chủ yếu, có như vậy khi ra nghề vào các vai diễn người nghệ sĩ có thể truyền đạt những tình cảm và sắc thái của tác phẩm đến công chúng một cách hiệu quả nhất. Cần phải mở các lớp đào tạo chèo một cách liên tục,tránh tình trạng đứt đoạn. Chèo cũng giống như các môn nghệ thuật khác, là một môn nghệ thuật khó, khó đối với cả người học và người dạy. Để tiếp thu được tất cả những tinh hoa của bộ môn nghệ thuật này cả về làn điệu cũng như nghệ thuật biểu diễn đòi hỏi người học phải có lòng say mê với loại hình nghệ thuật này
Tìm được nghệ nhân dạy đã là một vấn đề khó, tìm lớp trẻ để truyền nghề lại càng khó hơn. Do đó, cần có chính sách tôn vinh, khuyến khích và có những ưu đãi cụ thể đối với cả người dạy và người học.
Đối với người dạy, đặc biệt là các nghệ nhân, những người đóng vai trò quan trọng cho việc truyền dạy nghệ thuật chèo, là những người được coi là linh hồn của nghệ thuật dân tộc thì cần phải được tôn vinh trong nghề với việc phong tặng những danh hiệu cao quý như nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú.  Song không nên chỉ dừng lại ở sự tôn vinh trên bình diện "tinh thần" thuần túy với những bằng khen, bằng công nhận, danh hiệu... mà điều quan trọng hơn là để bảo tồn bộ môn nghệ thuật truyền thống này của dân tộc, thì cần phải đảm bảo những điều kiện về vật chất cho các nghệ nhân, đảm bảo những điều kiện tốt nhất, để họ yên tâm trong việc truyền nghề và dạy nghề, dốc hết tâm sức truyền đạt lại cho thế hệ kế cận. Có như thế thì nghệ thuật chèo mới được bảo tồn và phát huy được những giá trị nguyên bản và đích thực của nó. Sở Văn hóa – Thông tin và Du lịch nên thành lập các hội nghị nghệ nhân, mời các cụ tham gia sưu tầm các mảnh trò. Trong thời gian họp lại với nhau, các cụ nghệ nhân sẽ chia tổ, cùng nhau nhớ, ghim ghép các mảnh trò, trò diễn lại với nhau. Trong quá trình hội nghị, vốn liếng cá nhân đã dần dần đi tới thống nhất tương đối về mặt cấu trúc của các trò diễn. Từ những sáng tạo biểu diễn riêng biệt, mỗi chiếng diễn một khác, mỗi cụ diễn một khác đối với cùng một trò diễn hay vai diễn, các nghệ nhân đã gạn đục khơi trong, xây dựng những trích đoạn những vai diễn tiêu biểu, sau này lấy đó làm mẫu. Nhưng như vậy vẫn chưa đủ bên cạnh một chế độ, ưu đãi với người thầy nghệ nhân, nhất thiết phải có chế độ đãi ngộ tương xứng đối với lớp trẻ theo học nghề, để có thể bảo đảm sinh ra thế hệ trò nghệ nhân.
 Hiện nay có rất nhiều dòng nhạc xuất hiện ở Việt Nam, giới trẻ hầu hết chạy theo những cái mới của dòng nhạc hiện đại mà quên đi âm nhạc dân tộc. Vì vậy mà có thể nói số lượng học viên không được nhiều. Những người theo học nghề chủ yếu là những cá nhân, do trong nhà có truyền thống hát chèo, hoặc là những người theo học là người yêu nghệ thuật dân tộc. Để có thể thu hút được người học cần phải có một chế độ học bổng đặc biệt. Nói cách khác, đối với người học, bên cạnh các suất học bổng như sinh viên bao trường đại học khác, thì cần có nhiều học bổng khác từ các dự án bảo tồn để khuyến khích họ thi tuyển và học tập. Sau khi tốt nghiệp và cấp bằng, những học viên này phải được tuyển dụng vào những nơi sử dụng ngành nghề của họ như các nhà hát nghệ thuật truyền thống, các trường dạy nhạc.
Tình trạng hiện nay ở tất cả các ngành nghề sinh viên ra trường đi theo đúng ngành nghề mà mình theo học thì có rất ít, chủ yếu là làm trái ngành. Vì vậy đối với môn nghệ thuật này nếu để tình trạng học viên sau này ra trường không tìm được chỗ làm hay làm việc trái ngành nghề thì cũng đồng nghĩa với việc sẽ mất đi những người thực sự tâm huyết và say mê với việc đem nghệ thuật dân tộc đến với công chúng
2.2. Tăng cường công tác nghiên cứu
Chèo là một bộ môn sân khấu nghệ thuât lâu đời, độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng âm nhạc của người Việt Nam. Chèo gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý sống của người Việt. Do vậy nghiên cứu chèo cũng là góp phần vào việc nghiên cứu các giá trị truyền thống trong đời sống văn hóa Việt Nam. Hiện nay, những tích trò cổ có nguy cơ mai một dần và vĩnh viễn mất đi, vấn đề đặt ra hiện naylà làm thế nào để có thể lưu giữ được vốn quý của nền nghệ thuật dân tộc. Chính vì vậy đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn những tích trò cổ của chèo để góp phần vào việc phục hồi và chấn hưng loại hình nghệ thuật và sinh hoạt  chèo
Trước mắt, cần xây dựng một kế hoạch sưu tầm sách, vở, tranh, ảnh, phim, băng nhạc, đĩa hát... tiến tới việc tư liệu hóa các tác phẩm âm nhạc để
dàn dựng các chương trình bảo tồn, đồng thời nhân bản tư liệu để cất giữ, đề
phòng mất mát, thất lạc Cùng với việc sưu tầm, thu thập những bản nhạc, lời ca cũng cần phải biên soạn và xuất bản các ấn phẩm của Chèo bằng cách chụp ảnh, quay phim những diễn xuất, ca từ của các nghệ nhân trình bày. Nếu công tác này được thực thi sớm, và có hiệu quả thì ngay cả khi thế hệ nghệ nhân này đã qui tiên mà chưa kịp truyền dạy lại cho thế hệ kế cận, chúng ta vẫn còn lại nguồn tư liệu băng đĩa của họ để tiếp tục đào tạo cho các thế hệ mai sau.Việc giới thiệu nghệ thuật chèo đến với công chúng qua các ấn phẩm, các buổi thảo luận chuyên đề, các cuộc nói chuyện về âm nhạc dân tộc cũng rất quan trọng, vì nó làm nâng cao trình độ thưởng thức của công chúng, làm thức dậy tình yêu âm nhạc dân tộc của các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt cần phải tiến hành các cuộc nói chuyện với thế hệ trẻ để tìm hiểu những suy nghĩ của họ nghệ thuật chèo, từ đó lôi cuốn họ tìm đến với bộ môn nghệ thuật truyền thống này . Đây sẽ là thế hệ tiếp nối cha ông góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị to lớn để bộ môn nghệ thuật này không bị mai một. Bên cạnh đó, cần xúc tiến thành lập một bảo tàng lưu trữ những gì liên quan tới nghệ thuật chèo để giữ gìn những hiện vật giá trị của ca trù. Trong bảo tàng sẽ lưu trữ những nhạc cụ, trang phục, bài bản, làn điệu, những đĩa băng ghi âm , ghi hình, những tài liệu về chèo xưa và nay , hình ảnh biểu diễn... Từ đó công chúng mới có được một cái nhìn sâu sắc hơn về chèo, để từ đó có trách nhiệm giữ gìn vốn văn hóa cổ này không bị mai một.
 Đối với nghệ thuật chèo Nam Định., mặc dù có truyền thống lâu đời, nhưng đến nay những bài bản, những làn điệu và cả những cách thức biểu diễn cổ đã bị mai một dần. Vì thế, chính quyền địa phương cần phải mời một số chuyên gia nghiên cứu có tâm huyết tìm cách phục dựng lại diện mạo đặc trưng của nghệ thuật chèo, cần sưu tầm lại những bài bản cổ, những cách thức trình diễn đặc trưng, cần đi sâu vào quần chúng nhân dân để sưu tầm những cái hay, cái đẹp đã làm cho những người nghệ nhân say mê, gắn bó với nghề để từ đó có thêm tư liệu để dàn dựng vở, làm cho nghệ thuật chèo ngày càng trở nên hấp dẫn hơn. Quá trình này đòi hỏi mất rất nhiều thời gian, công sức cũng như kinh phí thực hiện bởi phải tiến hành một cuộc điều tra, tìm kiếm trên qui mô rộng đối với thế hệ nghệ nhân cũng như tầng lớp cao niên có sở thích nghe chèo. Điều đó không chỉ góp phần làm sống lại những giá trị truyền thống văn hóa của địa phương mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng đưa nghệ thuật chèo vào khai thác phục vụ trong du lịch.
2.3. Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
Mở rộng quan hệ hợp quốc tế là một trong những biện pháp hữu hiệu để vừa bảo tồn vừa giới thiệu, truyền bá văn hóa dân tộc Việt Nam tới bạn bè quốc tế, đồng thời tăng cường sự hiểu biết và kiến thức về tổ quốc, quê hương đối với kiều bào nước ngoài. Việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế có thể được tiến hành bằng cách thường xuyên tham dự liên hoan âm nhạc truyền thống giữa các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thường xuyên giao lưu, tổ chức các cuộc lưu diễn tại nước ngoài. Việc làm này sẽ đem lại một hiệu quả tích cực đó là giúp cho người dân tại những quốc gia không có loại hình nghệ thuật này hiểu biết thêm về nghệ thuật chèo của Việt Nam, từ đó nảy sinh nhu cầu muốn được nghe và thưởng thức, tìm hiểu nghiên cứu loại hình nghệ thuật này ngay trên chính quê hương của loại hình nghệ thuật đó
Bên cạnh việc góp phần bảo tồn, quảng bá hình ảnh về đất nước và con người Việt Nam và phát huy giá trị truyền thống của dân tộc thì việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế sẽ kêu gọi được sự đóng góp của các bậc trí thức, kêu gọi được sự hỗ trợ của các nhà tổ chức, các nhà hảo tâm, những cá nhân yêu quý nghệ thuật này đóng góp kinh phí, phương tiện, kỹ thuật, tư liệu... để bảo tồn loại hình nghệ thuật chèo không bị mai một.
 
Kết luận
Trong điều kiện Việt Nam còn là nước đang phát triển, kinh tế còn chưa lớn mạnh thì việc tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế là rất cần thiết, vì vậy chúng ta cần đẩy mạnh chiến lược này để thu hút nhiều hơn nữa các nhà tài trợ như UNESCO, những nước có nền văn hóa gần giống Việt Nam, quốc gia khác để cùng Việt Nam chung vai gánh vác nhiệm vụ bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật này. Một loại hình âm nhạc có bề dầy lịch sử (theo sử liệu và văn bia), chiều sâu nghệ thuật, tuy có nguy cơ bị quên lãng, nhưng đang chiếm được sự quan tâm của chính quyền, sự thiết tha gìn giữ của nghệ nhân, sự đón nhận nồng hậu của người trong nước và nước ngoài, sự tôn vinh và tài trợ của các tổ chức quốc tế, thì không thể nào không sống mãi với thời gian. Đối với nghệ thuật Chèo Nam Định cũng vậy, nếu chỉ có sự nỗ lực của số thành viên trong Nhà hát hiện nay không thôi thì chưa đủ, chính quyền thành phố Nam Định cùng với sở Văn hóa thể thao và Du lịch nên xem xét kêu gọi sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức văn hóa quốc tế, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cùng tham gia vào quá trình phục dựng lại những mảnh trò cổ, những đặc trưng của nghệ thuật chèo thành Nam, để có thể đem đến cho khán giả những làn điệu, những lời ca tiếng hát mượt mà, những điệu chèo cổ xưa của dân tộc.
 

 
Trần Đình Huy
(Nhà hát chèo Nam Định)


 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Bảng (1999) Khái luận về Chèo, viện sân khấu trường Đại học sân khấu – điện ảnh xuất bản, Hà Nội.  
2. Bùi Đức Hạnh (2007) 150 làn điệu chèo cổ. NXB văn hóa dân tộc.  
3. Trần Đình Ngôn (2010) Chiếng Chèo Đông, NXB sân khấu Hà Nội.  
4. Trần Ngọc Canh (2004), Nghệ thuật múa chèo, NXB sân khấu.
 
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Đỗ Thị Hạ - 04/08/2015 08:12
Tôi nghĩ tác giả này nếu có điều kiện nên đi theo học lớp đào tạo thạc sĩ (nếu có). Đây là tài năng có thực tại Nam Định.
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn