00:13 ICT Thứ ba, 12/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Sân Khấu

Tự hào nghệ thuật chèo Nam Định

Thứ hai - 07/03/2011 17:09

Cho tới nay, nghệ thuật Chèo mà ông cha ta để lại cho chúng ta đã có hàng ngàn năm tuổi. Có thể nói Chèo là thể loại sân khấu cổ nhất và thuần khiết dân tộc nhất; là thể loại sân khấu của nền văn minh lúa nước thuộc châu thổ sông Hồng.

Từ những câu chuyện dân gian, ca dao, đồng dao, dân ca của vùng đồng bằng và trung du phía Bắc, từng bước được sân khấu hoá, ông cha ta đã soạn thành những tích - câu chuyện có bắt đầu và có kết thúc. Rồi các tích các cụ dịch thành những trò diễn. Số phận các nhân vật được thể hiện qua các lớp trò bằng nói, hát và múa. Tích trò được lần lượt diễn ra theo thứ tự thời gian. Người ta gọi đó là: lối “CẤU TRÚC THẲNG”. Nghệ thuật Chèo dần dần được hình thành và phát triển trên nền văn nghệ dân gian của vùng đồng bằng và trung du phía Bắc.

     Danh từ “CHÈO” cho tới nay chưa có một giải nghĩa chuẩn xác, cả về nghĩa và nguồn gốc. Có tới 5 cách hiểu và giải nghĩa về chữ “Chèo”:

     - “CHÈO” là sự đọc trệch của chữ “chầu”, nghĩa là thể loại nghệ thuật này thường được biểu diễn để chầu thần, chầu thánh, chầu quan trên.

     - CHÈO là từ chữ “trào lộng”

     - CHÈO là từ sự lao động sông nước: “chèo thuyền” vừa lao động vừa hát, vừa nói và kể chuyện

     - CHÈO là từ chữ “chào” đón khách quý, chào đón những ngày vui

     - CHÈO là để chỉ một thể loại nghệ thuật chủ yếu dùng trò nhời v.v…

     Từ ngày xưa cho tới nay nghệ thuật Chèo được tồn tại dưới 6 hình thức tổ chức:

                + Phường chèo (ở các làng quê)

                + Chiếu chèo

                + Gánh hát chèo

                + Đội chèo

                + Đoàn chèo

                + Nhà hát chèo.

     Nhiều gánh, chiếu và phường ở một vùng liền kề gọi là “Chiếng chèo” (vùng Chèo).

     “Chiếng chèo Bắc”: bao gồm Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc.

     “Chiêng chèo Nam”: gồm Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình.

     “Chiếng chèo Đông”:  gồm Hưng Yên, Hải Dương.

     “Chiếng chèo Đoài”: gồm Hà Đông, Sơn Tây.

     Là những vùng chèo nổi tiếng hàng trăm năm qua, ở mỗi vùng Chèo ấy có những làng Chèo cổ, những phường Chèo và những nghệ nhân lừng danh.

 

 

 

 

Một cảnh trong vở diễn “Trạng Lường” của Nhà hát Chèo Nam Định. Ảnh: Xuân Thu
Một cảnh trong vở diễn “Trạng Lường” của Nhà hát Chèo Nam Định.
Ảnh: Xuân Thu 

 

 

Một cảnh trong vở diễn “Trạng Lường” của Nhà hát Chèo Nam Định.
Ảnh: Xuân Thu 

 

     Nam Định thuộc “Chiếng Chèo Nam”. Hàng trăm năm qua đã có những làng Chèo nổi tiếng: (Trong làng có phường Chèo, gánh hát Chèo và chiếu Chèo sân đình. Ví dụ như Đội Chèo làng Đặng Xá (Mỹ Hưng) rồi làng Chèo ở xã Mỹ Hà (Mỹ Lộc); Làng Chèo Bồng Xuyên, Làng Trung Khu ở xã Yên Phong; Làng Chèo An Lại Hạ, Thụ Ích xã Yên Nhân (Ý Yên); Làng Chèo Phú Vân Nam ở xã Hải Châu (Hải Hậu); Làng Chèo Hoành Nhị ở xã Giao Hà; Làng Chèo Kiên Hành (xã Giao Hải) và làng Chèo Duyên Thọ (xã Giao Nhân) - huyện Giao Thuỷ v.v…

     Từ những “Chiếu Chèo sân đình”, “Gánh hát Chèo”, “Phường Chèo” ở các làng quê - hoạt động theo mùa vụ không thoát ly khỏi nghề canh nông và do lòng ham mê của các cá nhân, gia đình và dòng tộc. Một số gánh hát Chèo có đi biểu diễn kiếm tiền, nhất là vào những dịp lễ hội; nhưng rồi đến mùa vụ lại quay về với đồng ruộng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 từng bước được chuyên nghiệp hoá, thành một tổ chức do Nhà nước nuôi dưỡng và quản lý.

     Đoàn nghệ thuật Chèo tỉnh Nam Định hôm nay tiền thân là ĐỘI VĂN CÔNG NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH - được thành lập vào ngày 01 tháng 10 năm 1959, do ông Nguyễn Kinh Luân làm Đội trưởng, ông Thanh Chuyên làm Đội phó và ông Thanh Đạm làm Hoạ sỹ.

     Buổi đầu biên chế của Đội chưa đến 30 người.

     - Diễn viên nữ có: Thuý Diễm, Thục An, Phương Liên, Văn Bẩy, Kim Đan, Kim Yến; vài tháng sau khi được thành lập được bổ xung thêm: Mai Sen, Kim Liên, Thanh Hương.

     - Dàn diễn viên nam thủa ban đầu gồm có: Đồng Ích, Đỗ Hiển, Đoàn Bá, Đức Hứa, Duy Hằng, Đoàn Thanh Bình, Duy Thịnh. Mấy tháng sau được bổ xung Thế Tuyền, Ngọc Hiển.

     - Dàn nhạc có:

                + Văn Phức (nhị 1)

                + Đỗ Tất (nhị 2)

                + Đình Hãng (hồ)

                + Hoàng Kim Định (accoodeol)

                + Thanh Hải (violol)

                + Đức Hứa (tiêu sáo)

                + Đỗ Hiển (Trống).

     Một năm sau thành lập, đoàn diễn viên nữ được bổ xung thêm Thuý Ngân, Thuý Nga, Kim Chung…

     Thời gian đầu chưa chuyên hẳn về Chèo mà chương trình, tiết mục của Đội khá tổng hợp: hát Chèo, múa Chèo, hát dân ca, diễn hoạt cảnh Chèo, trích đoạn Chèo cổ và đội còn diễn cả kịch ngắn. Bởi “Văn công nhân dân” mà. Từng bước đội ngũ diễn viên và nhạc công được bổ xung, sau hơn một năm thành lập quân số của Đoàn đã lên tới hơn 40 người, và có điều kiện đi chuyên sâu vào nghệ thuật Chèo. Ngoài những tiết mục lẻ, một vài năm đầu Đoàn đã dàn dựng thành công các vở diễn: “CHỊ THẮM-ANH HỒNG”, “BÊN ĐƯỜNG DỐC”, “ĐƯỜNG CÀY”, “TẤM ẢNH BÊN ĐẦM SEN:, “CHIẾC KHĂN HỒNG”, “VƯƠNG QUÝ LÝ HƯƠNG HƯƠNG”… Điểm nổi bật trong năm 1962 và 1963 là Đoàn đã dàn dựng thành công 2 vở diễn: “ĐÔI NGỌC LƯU LY” - tác giả và đạo diễn Lộng Chương (soạn theo tích Chèo cổ “Trương Viên”). Vở diễn này đoàn đi dự hội diễn năm 1962 được tặng Huy chương Bạc. Diễn viên trẻ Thanh Hương trong vai Thị Phương được thưởng Huy chương vàng và 3 huy chương bạc dành cho các diễn viên: Kim Liên trong vai Trương Mẫu, Đồng Ích trong vai hề nhà Thừa tướng, Thế Tuyền trong vai Trương Viên.

     Với một đoàn nghệ thuật còn quá non trẻ: vừa mới thành lập được hơn 2 năm, cho nên tấm Huy chương bạc mà đoàn đạt được đầu tiên quả là niềm vui lớn đối với anh chị em toàn đoàn.

     Phát huy thắng lợi, năm 1963 đoàn bắt tay dàn dựng vở  diễn với đề tài hiện đại: “CHỊ TÂM BẾN CỐC”, hay còn có tên gọi khác “NGƯỜI CON GÁI CỦA ĐẢNG” - tác giả và đạo diễn :Tào Mạt; trợ lý đạo diễn Đỗ Hiển. Vở diễn này Đoàn đã vinh dự được biểu diễn phục vụ Bác Hồ và anh chị em công nhân nhà máy Liên hợp Dệt Nam Định nhân dịp Bác Hồ về thăm nhà máy năm 1963. Trước khi biểu diễn, Đoàn có vinh dự được chụp ảnh chung cùng Bác kính yêu!.

     Năm 1967, đoàn dàn dựng thành công vở chèo lịch sử “TRẦN QUỐC TOẢN RA QUÂN”- tác giả Hoài Giao; đạo diễn Đoàn Bá. Nếu như “ĐÔI NGỌC LƯU LY” là mốc son lần đầu tiên Đoàn Chèo Nam Định đạt được vào đầu những năm 1960 thì vở diễn “Trần Quốc Toản ra quân” là mốc son mới của đoàn. Vở diễn đã tạo ra được tiếng vang trong đông đảo khán giả trong và ngoài tỉnh. Vì vậy năm 1971 vở diễn “Trần Quốc Toản ra quân” của đoàn Chèo Nam Định đã được quay thành phim nhựa 35 ly, chiếu rộng rãi phục vụ nhân dân cả nước. Nữ diễn viên trẻ Thuý Ngân đã thể hiện khá thành công trong vai Quốc Toản.

     Năm 1968 giữa lúc cuộc chiến tranh leo thang của Mỹ phá hoại miền Bắc XHCN ngày một ác liệt. Theo yêu cầu của chiến trường, Đoàn đã thành lập “ĐỘI VĂN CÔNG XUNG KÍCH” gồm 13 đồng chí: Lê Huệ, Đình Hãng, Quyền Thanh, Đồng Ích, Mạnh Tường, Phùng Hường, Quang Thiệu, Duy Cổn, Mai Sen, Thu Hương, Lệ Hằng, Kim Chung và Thuý Nga - do đồng chí Lê Huệ làm đội trưởng đi vào biểu diễn dọc tuyến lửa Khu Bốn rồi sang biểu diễn ở tỉnh Khăm Muộn, đến Bộ tư lệnh 559 tỉnh Savana Khét và Đoàn 565 ở Nam Lào. Đội lên đường từ đầu tháng 4 năm 1968 và đến cuối tháng 12 năm 1968 mới trở về an toàn. Ngoài bộ phận xung kích đi chiến trường, bộ phận ở nhà vẫn miệt mài luyện tập ở nơi xơ tán và thường xuyên tới các trận địa, nhà máy, trường học và các vùng nông thôn trong tỉnh tổ chức biểu diễn phục vụ đồng bào, chiến sỹ góp phần tích cực vào phong trào “Tiếng hát át tiếng bom”.

     Năm 1973 Đoàn chèo Nam Hà lại tổ chức một chuyến đi vào biểu diễn phục vụ đồng bào và chiến sỹ ở những vùng mới giải phóng của tỉnh Quảng Trị. Anh em diễn viên, nhạc công và cán bộ kỹ thuật của Đoàn đều có mặt trong chuyến đi phục vụ đặc biệt này.

     Có thể nói, ngoài những vở chèo cổ, Đoàn Chèo Nam Định đã rất thành công trong việc dàn dựng và biểu diễn những vở chèo về đề tài lịch sử truyền thống Cách mạng và đề tài hiện đại; góp phần khẳng định: Nghệ thuật Chèo có đủ khả năng phản ánh sinh động tất cả các mảng đề tài của cuộc sống.

     Bên cạnh sự thành công của vở “Chị Tâm bến cốc” cuối năm 1969 Đoàn bắt tay dàn dựng vở “LẤN BIỂN” của tác giả Đào Nguyên - Đạo diễn Lê Huệ và Đoàn Thanh Bình. Vở diễn đã nói lên được phần nào những khó khăn vất vả, sự bảo thủ như là những vật cản đối với những ai dám nghĩ, dám làm trong phong trào thuỷ lợi: quai đê lấn biển của những người nông dân ở vùng đồng chua nước mặn. Tại hội diễn SKCN năm 1970 (đợt 2 tổ chức tại Nghệ An)- Đoàn giành huy chương Bạc.

     Tiếp nối mảng truyền thống Cách mạng, năm 1975 Đoàn chọn và dàn dựng vở “ NI CÔ ĐÀM VÂN” của tác giả Học Phi, chuyển thể Chèo: Trần Đình Ngôn - đạo diễn Lê Huệ. Vở diễn đã vinh dự được chọn về thủ đô Hà Nội biểu diễn phục vụ đại biểu Đại hội lần thứ IV của Đảng (1976).

     Nam Định là một vùng quê văn hiến và Cách mạng nơi phát tích của vương Triều Trần - những tấm gương sáng chói của những bậc tiên liệt mãi mãi còn nguyên giá trị cho con cháu muôn đời. Phát huy thế mạnh vốn có của mình, cuối năm 1977 - đầu 1978 Đoàn chèo Nam Hà đã dàn dựng vở diễn “SOI BÓNG NGƯỜI XƯA” - tác giả: Trúc Đường, đạo diễn Dương Ngọc Đức và Lê Huệ. Năm 1980 Đoàn đem vở diễn đi dự hội diễn toàn quốc, hai diễn viên Thế Tuyền vai “Trần Khánh Dư” và Thanh Hương vai “Vân Hạ” được tặng Huy chương vàng.

     Niềm vui nối tiếp đến với đoàn chèo của tỉnh: tại hội diền toàn quốc năm 1985, vở diễn “NHỮNG NGƯỜI NÓI THẬT” -  tác giả An Viết Đàm, đạo diễn Lê Huệ đã được thưởng huy chương vàng. Hai diễn viên Thế Tuyền vai Quyền Chủ tịch huyện, Duy Cổn - vai Phó Văn phòng UBND huyện được tặng huy chương vàng; 4 diễn viên Thanh Hương, Thuý Nga (vai 2 bà nông dân); Lương Duyên (vai Lan - con gái quyền Chủ tịch huyện); Mai Khuyên (vai Mụ Phay) được tặng huy chương bạc.

     Vở diễn đã chiếm được cảm tình của người xem không chỉ bằng phong cách dàn dựng và trình độ biểu diễn mà còn bằng tư tưởng của vở diễn: người xem bắt gặp những con người như Chủ tịch, Phó Chủ tịch huyện, Chánh Văn phòng, Chủ nhiệm HTX, kỹ sư nông nghiệp… rồi những gương mặt nông dân lam lũ, những mẫu hình nhân viên thương nghiệp một thời ỷ thế vào “chế độ bao cấp”…

     Hiện thực nông thôn một thời gồng mình lên theo cách “làm ăn lớn!” trong thời bao cấp đã diễn ra sinh động ở vở diễn.

     Có thể nói: ngoài những vở chèo cổ mang tính mẫu mực của thể loại nghệ thuật sân khấu chèo do ông cha để lại, trong quá trình tồn tại và phát triển, Đoàn Chèo Nam Định - Nam Hà - Hà Nam Ninh - nay là Nam Định đã mạnh dạn khai thác và dàn dựng lại mảng đề tài: lịch sử truyền thống; Hiện thực Cách mạng đương đại. Đó là hai thế mạnh của Đoàn nghệ thuật Chèo tỉnh Nam Định.

     Sau chiến thắng lịch sử 30 tháng 4 năm 1975, trong niềm vui chung của quân - dân cả nước, của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, Đoàn Chèo Nam Hà đã ý thức được: sự cần có mặt của Đoàn ở những vùng mới giải phóng để phục vụ đồng bào chiến sĩ.

     Chỉ sau 5 tháng chuẩn bị, cuối tháng 9 năm 1975 Đoàn đã dốc toàn quân lên đường. Lực lượng của Đoàn lúc này khá hùng hậu nên phải đi 2 xe ca, hai xe tải và một xe con. Lãnh đạo tỉnh cử đồng chí Lê Văn Lễ- Phó Trưởng Ty Văn Hoá đi cùng đoàn làm nhiệm vụ tổng chỉ huy và các đồng chí Lê Huệ - Đoàn Trưởng, Đoàn Thanh Bình - Đoàn Phó. Đội diễn viên nam của Đoàn khi đi Nam gồm những gương mặt sáng giá như: Đăng Truyền, Thế Tuyền, Duy Cổn, Phùng Hường, Minh Xuyết, Minh Phương, Sĩ Hà, Thanh Hiền, Đức Hạnh, Dương Thanh Nghị, Văn Định, Đăng Khoa…

     Dàn diễn viên nữ cũng rất đa sắc đa tài: Kim Liên, Thanh Hương, Thuý Nga, Tuyết Lan, Kim Chung, Bích Hợp, Kim Oanh, Hồng Đê, Thuý Dân, Hồng Liên, Bích Thuỷ, Thanh Quế, Lệ Hằng, Minh Doan, Bích Thục, Kim Dung, Mai Trúc…

     Dàn nhạc có tới 13 thành viên: Văn Phức (nhị 1), Quyền Thanh (chỉ huy dàn nhạc), Đặng Hãng (nhị 2), Văn Jết (hồ đại), Trọng Lực (sáo), Văn Bính (đàn bầu), Đoàn Văn Y (trống), Duy Cường (thập lục), Tạ Văn Trí (tam đại), Đức Hải (tiêu), Việt Dương (tam), Mạnh Tường (sello), Đỗ Ngọc Vượng (tam thập lục) - Xuân An làm ánh sáng và Hồ Ngọc Cẩm làm kỹ thuật âm thanh.

     Dàn kịch mục mà đoàn mang đi cũng khá phong phú: “Trần Quốc Toản ra quân”, “Tấm Cám”, “Quan Âm Thị Kính”, “Đôi ngọc lưu ly” và những tiết mục ngắn như “Anh lái xe và cô chống lầy”, “Đường về trận địa”, Trích đoạn “Tuần ty - Đào Huế”, “Lý trưởng - mẹ Đốp”…

     Những tiết mục hát văn như: “Tiễn anh lên đường”, “Đài sen dâng Bác”, “Gửi anh một khúc hát văn”, “Gái đảm Nam Hà”.

     Tháng 10 năm 1975, điểm diễn đầu tiên là Tổng kho Long Bình, sau đi Biên Hoà đoàn đã biểu diễn tại quận 10 và sau đó là Thủ Đức, Hố Mai, Biên Hoà, Bà Rịa - Vũng Tàu, Mỹ Tho, Đà Lạt, Gia Lai - Kon Tum, Phan Rang, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị, Quảng Bình. Cuối tháng 4 năm 1976 Đoàn mới trở về thành phố Nam Định - khi tỉnh Nam Hà vừa mới sát nhập với tỉnh Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh được 2 tháng.

     Từ đầu những năm 1960 của thế kỷ XX, Đoàn Chèo Nam Định là đơn vị đầu tiên nghiên cứu, thử nghiệm thành công việc đưa nghệ thuật dân gian “Múa hát chầu văn” lên sân khấu chuyên nghiệp. Trước đó đàn hát chầu văn hầu đồng (thường gọi là “hát chầu: hay “hát hầu”) của các cung văn thường diễn ra vào những dịp lễ hội, ở các phủ, đền. Có thời còn bị cấm bởi những mê tín dị đoan của các con đồng. Cấm hầu đồng, dĩ nhiên đàn hát chầu tự nhiên cũng bị mất theo!.

     Những tiết mục múa hát chầu văn của Đoàn Chèo Nam Định, Nam Hà như: “Nam Định quê tôi”, “Gái đảm Nam Hà”, “Đài sen dâng Bác”, “Tiễn anh lên đường”, “Gửi anh một khúc hát văn” v.v… đã thu hút cảm tình của biết bao khán giả xã gần.

     Tên tuổi của các nghệ sỹ: Kim Mã (tức Chu Văn - tác giả), Kim Liên, Đăng Truyền - hát văn; Thế Tuyền vừa đàn nguyệt vừa hát; Quyền Thanh, Quang Thiệu - gõ dân tộc đã nhanh chóng nổi tiếng trên toàn miền Bắc XHCN và nhất là những năm chống Mỹ cứu nước tiếng hát văn của các nghệ sỹ Đoàn Chèo Nam Hà, qua là sóng Đài tiếng nói Việt Nam đã thường xuyên lan toả đến mọi miền đất nước, làm say đắm biết bao chiến sỹ, đồng bào.

     Tiếp nối truyền thống của thế hệ cha anh vào cuối những năm 1990 của thế kỷ XX, Đoàn Chèo Nam Định đã mời tác giả Trần Đình Ngôn nghiên cứu và viết kịch bản về đề tài lịch sử truyền thống - các vương triều Trần. Cuối năm 1998 Đoàn mới mời đạo diễn Trịnh Quang Khanh, nhạc sỹ Bùi Thanh Bình và hoạ sỹ Dân Quốc, biên đạo múa Ngọc Canh về dàn dựng vở “TRẦN ANH TÔNG” - vở diễn được dàn dựng công phu, hoành tráng - lại rất Chèo nên ngay từ khi ra mắt đã chiếm được cảm tình của khán giả xã gần. Bởi lẽ vở diễn không dừng ở việc phản ánh lịch sử mà tư tưởng chính của vở là nêu cao tấm gương về việc “rèn người và tự rèn mình, trách nhiệm của thế hệ đi trước trong việc đào tạo, bồi dưỡng người kế cận”. Càng ở ngôi cao càng cần sự nhận thức:

“Bước dẫu mỏi

Đường còn xa

Gánh non sông nhọc nhằn

Cha mong con kế nghiệp…

Mới hay lửa thử vàng

Vàng sẽ sáng

Đẹp ánh dương quang…”.

     Năm 1999 vở diễn được Đài truyền hình Việt Nam phát trên sóng 2 lần và Đài truyền hình tỉnh cũng phát lại 2 lần theo yêu cầu khán giả. Tháng 2 năm 2000, Đoàn đưa vở diễn “Trần Anh Tông” tham dự hội diễn toàn quốc - chuyên về thể loại sân khấu Chèo. Hội tụ về hội diễn có tớ 18 đoàn Chèo chuyên nghiệp. Vở diễn của Đoàn Chèo Nam Định là một trong 2 vở được Ban giám khảo hội diễn trao huy chương vàng. Các diễn viên: NSUT Bích Thục trong vai Hoàng Thái hậu (vợ Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông) và nghệ sỹ Đăng Khoa trong vai: Nho sinh Đoàn Nhữ Hài được tặng huy chương vàng; diễn viên Quốc Hùng trong vai Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông, Mạnh Hùng vai vua Trần Anh Tông và Diệu Hằng vai hoàng hậu - vợ vua Trần Anh Tông được thưởng huy chương bạc.

     Vở diễn đã được Ban tư tưởng Văn hoá Trung ương, Bộ Văn hoá thông tin và Ban tổ chức phục vụ Đại hội tuyển chọn là một trong 2 vở diễn (vở “Hồn nước” của Nhà hát kịch quân đội) vào biểu diễn phục vụ Đại biểu Đại hội IX của Đảng CSVN.

     Như vậy là sau một phần tư thế kỷ (năm 1976 với vở diễn “Ni cô Đàm vân”) Đoàn Chèo Nam Định mới có vinh dự được đưa vở diễn đi phục vụ Đại biểu Đại hội Đảng toàn quốc. Vở diễn Trần Anh Tông là mốc son đậm sắc của Đoàn Chèo Nam Định ở năm cuối cùng, chia tay với thế kỷ XX .

 

 

(Nguồn: namdinh.pnn.com)

  

 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn