22:22 ICT Thứ tư, 13/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Văn Xuôi

Mái ấm (Nguyễn Xuân Mẫn)

Thứ tư - 25/01/2017 20:16
 

MÁI ẤM
Truyện ngắn

Từ ngày đẻ hắn, mẹ hắn cứ gầy tong teo như dây bí già, nhiều người bảo mẹ bị bệnh sản mòn, uống thuốc khắc khỏi thôi. Bố đưa đi viện chữa chạy, rồi lại nhờ người tìm hái thuốc nam nhưng cả hai kho thuốc trên rừng và trong bệnh viện, không đủ sức giật mẹ ra khỏi bàn tay của thần chết. Sáng hôm ấy, hắn vào buồng chào mẹ rồi mới đeo túi sách đi học, vẫn còn nghe mẹ bảo bố sang nhà mè Páo ở Luổng San lấy thuốc nam. Đến giờ ra chơi, ông Thào hớt hải vào lớp xin cô giáo cho hắn nghỉ học. Về tới sân, hắn thấy nắm thuốc lá mới hái bỏ đầu hè, trong nhà có đông người lắm. Hắn khóc tức tưởi, chạy vào buồng ôm chặt mẹ đang nằm bất động, người vẫn còn ấm. Mẹ âm thầm ra đi để san bớt gánh nặng cho bố, nhưng lại khoét sâu nỗi đau trong lòng cả hai bố con hắn. Ngôi nhà ấm áp và vững chãi giữa bản Na Kim của người Giáy, bỗng dưng bị gió đời cuốn mất một mái. Như cây tre ấp iu cho mầm năng mới nhú, bố hắn vừa cật lực làm để nuôi con và trả nợ tiền thuốc cho mẹ. Buổi tối nhìn hắn mải mê học bài, mắt bố như sáng lên niềm tin. Nhưng niềm vui còn nằm khuất tận chân trời xa, thì trong một đêm đi quăng chài, bố lại trốn hắn theo mẹ. Nằm ngủ mãi không thấy bố về, hắn tung chăn lần ra suối. Giữa đêm đen mịt mùng, chỉ có dòng lũ gầm gào, đáp trả tiếng gọi khản giọng của cậu bé người Giáy mười hai tuổi. Ba ngày sau, cả bản mới tìm thấy xác bố bầm dập, bị kẹt trong ngách đá. Xong tang bố, họ Vàng nhỏ họp lại, bảo hắn ghi những khoản tiền chi làm ma. Nào là thuê thầy cúng, nào mua lợn, mua gà, áo quan và nhiều khoản khác, tất cả tới năm chục triệu đồng. Ông Thào, trưởng họ còn đưa ra tờ giấy viết bằng chữ của bố, vay ông hai mươi triệu đồng mua thuốc cho mẹ. Hai con trâu, ba mươi cân giống ruộng của nhà hắn, bị người trong họ trừ hết vào các khoản nợ. Họ còn nói, ngôi nhà gỗ táu mật này cũng không đủ nợ nhưng vì tình người trong dòng họ, phải để cho hắn ở. Tận khuya mọi người mới thậm thịch ra về, những bước chân của họ như đạp tan nát lòng đứa trẻ mồ côi.
Hết đứng, hắn lại ngồi xuống bên gùi, nhưng không một ai hỏi mua, hắn lên tục ngáp dài. Từ ngày bố mất, hắn như con nghé bắt đầu tuổi tập kéo gỗ, kéo cày nhưng ruộng hết, nương không còn. Hắn phải bỏ học đi chăn trâu thuê, lấy cỏ cá bán, có lúc được theo người lớn đi đào ao hay san nền nhà thuê. Quái ác thay, cây lúa có mùa, cây ngô có vụ nên sau thu hoạch, chẳng nhà nào cần người làm. Những lúc ấy, hắn lên rừng tìm rau dớn, hoa chuối, lá dong, hạt dé…có gì ăn hoặc bán được là nhặt nhạnh. Rừng có rất nhiều thứ nhưng không chỉ dành riêng cho hắn. Có hôm lên khe núi Po Ngải, nhìn thấy rất nhiều dây củ mài, leo chằng chịt lên tận ngọn những cây cao. Hắn mừng thầm ít nhất cũng đào được vài ba gùi đi chợ, nhưng gùi măng trên lưng đã nặng lại không có thuổng. Hai hôm sau vác thuổng vào thì hỡi ôi, những lá mài đã héo queo quắt, chỉ còn lại mấy cái hố sâu ngập quá đầu người lớn. Chiều qua, may cho hắn, vào trong khe Vái Ặp lấy được một thồ sơn thục nặng. Mấy hôm liền trời mưa không đi rừng được, chẳng có gì bán nên hết gạo ăn. Trời còn tối đất, hắn cầm đuốc, khoác thồ sơn thục xuống chợ, chắc mẩm sẽ có đủ tiền mua được yến gạo. Thế mà đặt gùi xuống chợ từ khi chưa có người, bây giờ chỉ còn vài người vội vã thu dọn hàng, vẫn không bán được củ nào. Nếu là rau măng hay củ mài còn mang về ăn thay cơm, nhưng củ này chỉ bán cho người ta làm thuốc. Nhìn người người hớn hở ra khỏi chợ, hắn ứa nước mắt nhớ lại bài hát mồ côi…
Nhìn về phía hàng gạo liền đấy, hắn thấy mọi người đang lục tục thu dọn hàng. Hắn cố nhìn xem có ai quen để xin mua chịu nhưng chỉ toàn người lạ. Một cơn gió từ đó tạt sang, mang hương thơm nhè nhẹ của một thứ gạo chắc là ngon lắm. Cái bụng rỗng sôi èo èo, bắt họng hắn nuốt nước bọt ừng ực bù vào cho nó. Hắn đảo mắt về phía trước, nhận ra một người phụ nữ đang ngồi trước bao tải chỉ có ít gạo. Thấy hắn nhìn sang, người phụ nữ không hẳn mời chào: Gạo lợn gạo gà. Cân bằng bát thôi a! Rảo chân  sang, hắn cúi xuống xem những hạt gạo to nhỏ, ngắn dài khác nhau và rất nhiều hạt gẫy vụn, đều ngả màu đất vàng. Người phụ nữ cười: Mình phải làm cho sạch nên bị muộn chợ. Mình cũng ăn gạo này a! Rồi ả kể ngày nào cũng quét được dăm mười cân, ăn không hết nên bán lấy tiền. Hắn nói như reo : Ở đâu chị? Chỉ tay ra phía sau lưng, ả ta thong thả: Ngoài bến đò đi tào. (Tàu) Khung (không) biết à! Mắt hắn sáng lên, nhìn kỹ vào người phụ nữ, quần áo nhem nhuốc như nắm giẻ lau. Gương mặt ả đen sạm, giọng nói tuy nhẹ như gió nhưng rất khó nghe, hắn đoán ả là người nơi khác đến.
Từ lúc theo người phụ nữ ra bến đò qua sông sang Trung Quốc, hắn cứ lẩm bẩm tự trách mình, sao chỉ cách chợ Bản San có một đoạn đường mà không biết nơi này. Nếu biết trước, hắn sẽ mang các thứ ra đây bán, chắc chắn phải kiếm được nhiều tiền. Mặt trời đã đứng bóng, nắng tháng bảy gay gắt như kiến đốt khắp người, bắt hắn nép vào bóng chiếc xe tải kềnh càng tránh nắng. Hàng chục chiếc ô tô tải nối đuôi nhau chờ xuống bến, xe nào xe ấy đầy ắp những bao hàng. Những đống hàng chất ngồn ngộn, có đống bao tải toàn chữ Việt, có đống lại là chữ Trung Quốc. Nhìn xung quanh xe có nhiều gạo rơi vãi mà tiếc, hắn thấy chị phụ nữ nói đúng, chỉ quét vài ba tiếng đồng hồ cũng đủ ăn mấy ngày. Một luồng gió dưới sông thổi lên mát rượi làm cho hắn khỏe hẳn người. Lúc còn được đi học, hắn đã nghe cô giáo dạy, nên biết con sông này chảy về từ núi cao xa lắm bên Trung Quốc. Vì quanh năm nước mang phù sa màu đỏ nên được gọi là sông Hồng. Dòng nước đưa phù sa ngày đêm chảy về xuôi, bồi đắp thành đồng bằng rộng lắm và cả thủ đô Hà Nội cũng nằm trong đó. Nhờ phù sa màu mỡ nên lúa ngô, cây cối tốt lắm. Hắn và bạn bè thường ước ao được đi mảng, đi thuyền theo sông để ngắm cảnh đẹp của đồng bằng dưới miền xuôi và được ra ngắm biển xanh rộng không có bờ. Còn bây giờ, ước muốn của hắn là nếu được xuôi dòng sông, hắn sẽ chọn nơi nào đất tốt nhất để dựng một căn nhà nhỏ và cấy lúa, trồng ngô. Suy nghĩ như dòng sông đang cuồn cuộn chảy trong đầu hắn, bỗng dừng lại khi một người đàn ông đến vỗ vai: Này anh bạn, giúp tớ một tay. Quân tớ lăn ra ốm tiệt, bà chủ lại cần chuyển gấp hàng xuống phà. Anh bạn chỉ đứng trên xe hất bao lên vai tớ, tớ sẽ thanh toán tiền công sòng phẳng!         
Nắm xôi người phụ nữ mua cho, chỉ vừa đi vừa ăn một loáng đã hết, vậy mà như phép thần giúp cho hắn có sức khỏe khuân hàng suốt hai tiếng đồng hồ. Xong xe hàng, bác Phúc, người bốc vác, kéo hắn vào quán cho ăn một bữa cơm thật no. Từ ngày bố mất, chưa bao giờ hắn được ăn no cơm chứ chưa nói đến thịt cá ngon như hôm nay. Bác bảo phải ăn no, nghề này đói bụng là không làm việc được. Từ hôm đó, hắn bắt đầu cuộc đời mới. Công việc hàng ngày của hắn là đi chợ, tìm củi, lấy nước và nấu ba bữa cơm cho sáu người bốc vác. Khi có nhiều hàng, hắn cũng ra kéo bao từ trên xe xuống vai cho họ hoặc vác những bao hàng nhẹ. Tối nay ngủ lán này, đêm mai nằm lán khác trên bến vì còn trông hàng cùng các bác các chú.
Nhưng những người mở rộng vòng tay đón hắn lại dần dần rời bến đò ra đi. Người vì cha mẹ già, phải về phụng dưỡng. Người con nhỏ, vợ đau yếu, phải về chăm sóc mấy sào ruộng. Người liên tục hàng chục năm đã ném kiệt sức cho những bao hàng, đành về quê, nuôi gà chăn vịt. Trước ngày phải vào Tây Nguyên nương nhờ cháu họ, mấy đêm liền bác Phúc không ngủ, thủ thỉ dặn hắn: Làm nghề cửu vạn này có khác gì tự gặm dần thể xác của mình. Dành dụm lấy ít vốn liếng, cháu tìm học một nghề nào đó. Sống ở nơi tứ xứ giang hồ, gian ngay lẫn lộn này, phải biết lựa chiều để giữ mình nhưng cháu nhớ, đói cho sạch, rách cho thơm!  
Từ khi xuống bến đò, hắn đã chứng kiến nhiều điều phức tạp nên  càng thấm thía lời bác Phúc. Người trên rẻo cao xuống, kẻ từ miền xuôi lên, tụ tập thành bến người hỗn độn. Ngày nào cũng xảy ra những cuộc cãi vã, rồi người ta vung dao, múa kiếm thay lời. Rủ nhau vào quán, sau vài chén rượu ngà ngà, chợt nhớ ra đêm nọ đánh bạc, tay bạn rượu này ăn gian. Thế là vác ghế phang cho thâm tím mặt mày. Hai gã rủ nhau đưa vợ con từ xuôi lên bán nước giải khát, nghe mụ vợ làu bàu bị nhà kia mua tranh cả năm vác mía, thế là máu hỏa bốc lên, thằng chồng cầm dao bầu xông sang hàng bên cạnh, xem lòng dạ của bạn cố tri. Những thằng nghiện ma túy lờ đờ, ruồi bâu đầy mép không xua nổi. Khi người ta dựng vội xe máy đi xem hàng, chỉ trong chốc lát, nó đã làm chủ chiếc xe, phóng biến vào trong xóm chợ. Mặc cả tiền bán thân, ả mắt xanh mỏ đỏ leo lẻo chửi thề đưa cả tổ tiên tay lái xe vào nơi bẩn thỉu nhất. Thỉnh thoảng công an lại bắt được tên tử tù vượt trại trong vai kẻ làm thuê. Vài ngày lại thấy một mụ bán hàng rong, bị còng tay vào xe hàng vì có tới hai chục tép hê rô in dấu trong những bao thuốc lá. Đang giấc ngủ ngon, mọi người bị dựng dậy bởi tiếng soong nồi loảng xoảng từ một căn lều, vì anh chồng dám lấy trộm tiền gửi về quê cho con riêng…
Ngày nối thành tháng, tháng kéo thành năm trong cảnh không nhà, ngủ nhờ, ăn tạm giữa hương thơm và ô uế lẫn lộn trên bến đò,  nhưng hắn vẫn trở thành chàng trai vạm vỡ, dư sức vác những bao hàng trên dưới một tạ, chạy băng băng. Đôi khi ngồi một mình, hắn đăm đăm nhìn lên núi Ma Cheo Van. Chìm trong biển mấy bàng bạc dưới chân núi là bản Na Kim, lưu giữ thời niên thiếu của hắn và hai nấm mồ bố mẹ. Nhưng về bản không ruộng cày, không nương cuốc thì lấy gì ăn. Hắn thở dài nghe tiếng còi chiếc ô tô đầy ắp hàng đang vào bến… 
Vác xong bao hàng cuối cùng khi trời đã tối từ lâu lắm. Nếu mọi ngày hắn đã lao xuống sông tắm cho thỏa thích nhưng bụng đói, chân không muốn bước. Nhằm theo ánh đèn điện ắc quy trong quán bà Sam, vừa đi hắn vừa lấy khăn lau mồ hôi. Trong quán không ồn ào như mọi tối, hắn vào thẳng bếp giọng mệt mỏi:  Bà cho cháu bát cơm!
Bà chủ quán cất giọng thương hại: Nhẵn nồi rồi. Sao không bảo bác để phần! Thôi ra ăn cơm với cô Xá, cô ấy nấu nhiều lắm! Không trả lời bà Sam, hắn quay lại nhìn người phụ nữ đang ngồi trong góc quán. Theo ả ra bến sông gần hai năm nay, nhưng những bao hàng trên vai như đè lấp hình ảnh người đã dắt hắn ra đây. Ngày ngày hắn vẫn thấy ả ta, nhưng quần quật từ sáng sớm đến đêm, có lúc nào rỗi cho hắn nói chuyện với ả. Hắn chỉ thấy người ta gọi ả là Xá thọt hay Xá đen, còn tên thật của ả là gì không ai biết. Người phụ nữ niềm nở: Về cùng ăn mà, nhiều cơm ngon lắm!    
Nói rồi, ả nhanh tay xới cơm ra hai bát đặt trên bàn ăn. Đói mệt nhấc đôi chân hắn bước tới và ngồi xuống. Ăn ngấu nghiến hết bát cơm thứ hai, hắn mới nhớ ra không mời ả. Vừa nhồm nhoàm nhai, hắn vừa hỏi: Một mình sao nấu nhiều thế! Nhìn người con trai ăn ngon lành, ả ra chiều thỏa mãn: Mình tưởng ăn được nhiều, nhưng nấu xong không muốn ăn! Hắn nhìn sang bát cơm đối diện vẫn nguyên vẹn vì khúc cá kho còn nằm trên đó. Ả cầm bát cơm của mình đưa sang phía hắn: Ăn thay mình. Chiều ăn ngô luộc vẫn no! Khi soong hết cơm, vừa thu dọn bát đũa, ả vừa nói nhỏ: Mai mình nấu cơm cùng nhau ăn cho đỡ khổ. Gạo không phải tiền à! Từ hôm đó, lúc nắng ráo bắc bếp ngoài gốc cây, khi mưa gió nhờ bếp quán bà Sam, bữa nào ả cũng nấu sẵn cơm chờ hắn về. Bưng những bát cơm nóng ả đưa, nhai những miếng thịt bạc nhạc ả gắp, hắn mới hiểu thân phận của người phụ nữ hơn mình mười một tuổi…
… Quê Pây ở tận giáp Lào, lên bảy tuổi, cô bé người Khơ Mú ấy bị sốt cao rồi co giật, nên chân phải bị thọt. Bố mẹ Pây bỏ nhau, mẹ ả đi bước nữa và dắt theo đứa con gái. Người bố dượng suốt ngày say rượu, lúc nào đôi mắt đỏ như mắt hổ, muốn bùng lên hai ngọn lửa đốt cháy bộ ngực đang nhú của đứa con gái không cùng dòng máu. Lừa hôm mẹ ả đi chợ bên Lào, lão sai Pây đi mua rượu. Vừa ra khỏi bản, ả bị người lạ quây lại, tung chăn trùm kín đầu, lấy thừng quấn chặt rồi vác chạy xuống đường ô tô. Chúng đặt Pây lên xe máy, cho thằng ngồi sau giữ chặt và phóng đi đâu không rõ. Mấy tiếng đồng hồ sau, chúng dừng xe đưa ả đến một ngôi nhà, và đẩy vào căn buồng hôi như ổ chuột. Chủ và khách vừa uống rượu vừa rì rầm nói chuyện. Khi rượu ngà ngà, chúng to tiếng cãi nhau tiền nhiều tiền ít, Pây mới biết mình bị bố dượng bán cho gã góa này làm vợ. Năm năm liền, vừa làm người ở, vừa làm vợ nhưng bụng ả vẫn lép xẹp. Vài ba ngày một lần, gã nốc rượu rồi mắng Pây là con chó đực, không ít lần, lão đánh ả thâm tím khắp người. Mấy lần hái lá ngón, nhưng vừa đưa lên miệng, Pây lại hoảng sợ ném đi. Một buổi chiều, khi Pây vừa đặt thồ rau lợn xuống hè, đã thấy ba thằng đàn ông ngày trước bắt ả, đang ngồi trong nhà. Thằng chồng già chỉ con gà trống buộc chân vào cột bảo ả mổ đãi khách. Linh tính báo điều xấu sẽ đến, giả vờ làm tuột dây cho gà chui qua bức vách thủng, rồi Pây khập khễnh chạy ra đuổi. Con gà kéo dây chạy trước, ả tập tễnh đuổi theo ra rừng, rồi bỏ gà lao xuống dốc. Quay về quê sợ bị bắt lại, Pây theo đường ô tô đi về hướng đông. Ả đánh liều vẫy một chiếc xe tải chạy cùng chiều xin đi nhờ. Nghe Pây kể sự tình, ông lái xe nghiến răng chèo chẹo: Chuyến này về, bác phải cắt đầu chúng nó! Trả hàng xong ở lối mở bến đò này, ông đưa cho Pây mấy trăm nghìn đồng , dặn ở tạm đây chờ ông đón. Chờ ba ngày rồi sáu, bảy ngày không thấy ông quay lại, Pây nhét kỹ tiền vào người, rồi tìm việc làm để kiếm sống. Sức hèn yếu lại bị tật nguyền, nên Pây chỉ làm được những việc nhẹ nhàng, lúc quét gạo, ngô hay hàng hóa rơi vãi, khi nhặt nhạnh bao tải, hộp bìa giấy, vỏ lon bia. Nhìn người phụ nữ thọt cầm chổi loay hoay mãi mới trèo lên được thùng xe, nhiều thằng tài xế chẳng cần ý tứ, tay ôm ngực, tay quặp vào háng Pây, bế thốc ả lên. Không sợ người xung quanh, không ngại mùi chua lòm ở bộ quần áo nhàu nhĩ, hai tay sần chai cầm vô lăng của bọn giặc lái day day bầu ngực, miệng hôn chùn chụt vào khuôn mặt ả nhọ nhem, rồi reo cười như vớ được vàng. Mỗi lần bị chúng hành hạ, Pây giàn giụa nước mắt, nhớ tới ông lái xe già nhân hậu nhưng càng mong, ông càng biệt tăm…
Tay xới cơm cho hắn, giọng Pây ngập ngừng: Mình muốn làm cái lều ở thôi! Hắn vừa đủng đỉnh nhai cơm, vừa buông câu gọn lỏn: Tùy! Má Pây bỗng đỏ bừng, mắt âu yếm nhìn sang hắn đang ngồi rung đùi, gõ đũa lên miệng bát lanh canh. Hôm sau, Pây nhặt nhạnh những đòn khiêng người ta vứt bỏ, thu mấy tấm bạt ni lông rách, rồi khập khễnh vác về mươi mảnh phibrô vỡ. Chỉ dăm ngày sau, các thứ để dựng túp lều đã chất thành một đống. Hắn nghỉ một ngày vừa san nền, vừa dựng túp nhỏ gần lều những người cùng làm trên bến.
Đóng xong mảnh phibrô làm vách, lùi ra xa ngắm nhìn mái nhà hạnh phúc của mình, hắn nở nụ cười mãn nguyện. Hắn và Pây cũng được trời ban cho quyền như nhiều cặp vợ chồng khác trên bến đò. Hắn cần bát cơm nóng mỗi khi bốc xong hàng. Pây muốn có người che chở lúc bị lũ đàn ông bờm xơm. Ban ngày bến đò tuy nắng gắt nhưng đêm xuống là hơi lạnh từ trên núi tràn xuống, từ mặt sông ào lên, bắt người ta phải đắp chăn bông mới ngủ được. Hơi ấm của người khác giới sẽ làm cho hắn và Pây không bị lạnh, để chờ nghe tiếng trẻ oa oa chào đời trong mái ấm này…
 

 
Nguyễn Xuân Mẫn
Quê: Vụ Bản, Nam Định
ĐT: 0978649870
Email: xuanmanlaocai@gmail.com

 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: thuốc nam, bàn tay
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn