03:23 ICT Thứ năm, 14/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Văn Xuôi

Một lần gọi con (Nguyễn Xuân Mẫn)

Thứ tư - 14/06/2017 11:10
 
MỘT LẦN GỌI CON
Truyện ngắn
 

…Vợ chồng cô Mẹt sinh nhai ngoài phố tỉnh, người buôn thúng bán bưng, kẻ lăn lộn bốc vác dưới bến sông, nhưng vì ba đứa con sàn sàn trứng gà trứng vịt, nên lúc nào gia đình cũng túng thiếu. Gặp chị Thụ đi bán gạo ngoài chợ tỉnh, khoe sẽ đi khai hoang tận Lào Cai, vì ở nhà làm ăn chật vật. Mẹt về kể với chồng, Đương mừng ra mặt. Mồ côi cha mẹ từ bé, hắn bỏ làng ra tỉnh sống lang thang rồi theo nghề bốc vác và có vợ con. Ngày ngày quần quật với những bao hàng nặng trĩu, nhưng vẫn không giúp được hắn có nổi mảnh đất dựng túp lều. Lên đồng rừng dứt khoát con cái không phải bữa cơm bữa cháo và hắn sẽ được làm chủ một thổ ở rộng rãi, lại chẳng phải bỏ tiền mua. Vợ chồng hắn có đẻ thêm đến năm sáu đứa con, cũng chẳng ngại. Đương bảo với vợ về quê xin đi.
Đất rộng người thưa, sức trâu lăn của hắn ngả gục cây cối trên một khu đồi rộng chỉ có hơn nửa tháng. Hơn một năm sau, nhờ những bắp ngô, củ sắn trên nương và làm công điểm theo hợp tác, cuộc sống của vợ chồng Đương hơn hẳn ở ngoài tỉnh dưới xuôi, lúc nào con cái cũng no. Vừa làm ruộng làm nương, cuối buổi chiều hắn chặt gỗ vác về chất một đống tướng để làm nhà mà chẳng cần trâu kéo. Hơn năm sau, vào một buổi sáng, hai vợ chồng đang làm cỏ sắn, Đương cầm cuốc chỉ vào mặt vợ:
- Tao bị chúng mày lừa. Hóa ra mày theo thằng Thụ lên đây để dan díu với nhau. Bịt mắt tao thế nào được. Chúng mày giỏi thật!
Mẹt nói thế nào lão Đương vẫn không nghe. Hơn mười năm làm vợ hắn, chị hiểu con trâu đất nói tiếng người kia cả ngày không mở miệng, nhưng sẵn sàng tâm tình với vợ bằng cẳng chân, nắm đấm và những gì có trong tay. Nhìn lưỡi cuốc sáng loáng, chị hiểu hắn dám cho chị một nhát vào đầu. Nếu không có vợ chồng anh Thụ giúp sức và chỉ bảo từ lấy gỗ làm nhà, chọn hom sắn, thì vợ chồng chị làm ăn gì nổi. Anh Thụ làm đội trưởng, biết Mẹt yếu sức lại chửa đẻ liên miên nên thường giao cho những công việc nhẹ của hợp tác. Thế mà bây giờ hắn lật mặt đổ vạ cho người ta. Biết lúc này có rạch tai hắn ra mà quát vào, thì hắn cũng không hiểu nổi. Chị đành chắp tay van hắn:
- Tôi lạy mình đừng đánh, để tôi sông nuôi các con. Mình bảo sao tôi nghe vậy! Nhưng tôi thề chỉ coi vợ chồng anh Thụ như anh chị thôi! Hắn bập mạnh lưỡi cuốc xuống đất, giọng rít lên:
- Thề! Thề cá trê chui ống! Thề !Thề! Thề!!! 
Lão Đương ngả cây gạo to chừng hai người ôm đứng rìa nương, dù anh Thụ đi qua đã dặn, trưa đi họp về sẽ chặt giúp nhưng máu ghen cùng cái sức trâu đất gộp lại, Đương cứ hùng hục chặt. Không ngờ hai dây gắm to như bắp tay quấn từ thân cây gạo sang cành cây kháo vàng đứng bên cạnh nên khi cây gạo đổ, đã bẻ phăng cành kháo, quật vào người, làm hắn bị gãy bốn rẻ xương sườn và cắt mất hai đoạn ruột. Từ đấy, mọi công việc nặng nhọc dồn lên vai Mẹt, Đương chỉ quanh quẩn ở nhà. Yếu sức lại bị bó chân bó cẳng quanh quẩn trong nhà ngoài vườn, nên cái tính ghen tuông của Đương càng hung hăng ghê gớm. Mẹt liên tiếp bị những trận đòn vô cớ. Đi làm về muộn bị đòn. Con nấu cơm nhão, mẹ bị đòn. Sang bên hàng xóm lâu càng bị đòn. Không hiểu sao yếu rớt như sên mà hắn nhanh hơn chớp, thoáng một cái, Mẹt đã bị hắn túm tóc quấn vào cột nhà. Từ ngày bị tai nạn, hắn lấy cớ đau người đòi uống rượu. Mưa dầm thấm lâu, rượu vào người dù ít hay nhiều nhưng lại là một lần hắn cất bài ca vọng cổ, không chửi Mẹt là con đĩ thì cũng rủa chị ăn tàn phá hại. Nhớ câu hắn thường mắng chết có số, Mẹt lại nhẫn nhục chịu đựng.
         
Nghe ai mách bảo, mụ Mẹt đi tìm thuốc phiện về cho lão Đương hút để bớt những cơn đau lúc tráo gió trở trời. Ai ngờ hắn bỏ rượu nhưng trở thành nghiện thuốc phiện, mỗi ngày không đốt đèn dầu lạc một hai lần là hắn lồng lộn như ma làm. Người hắn teo tóp lại như khúc củi khô, suốt ngày nằm trên giường, trùm tấm chăn chiên nhem nhuốc. Thuốc làm hắn lờ đờ không thèm động đến bát đũa, có khi hai ngày mới lùa vào miệng lưng cơm. Vợ con hắn bao giờ cũng phải để phần cơm, lúc nào cần ăn thì hắn tự dậy lục nồi. Chuyện hút của hắn cứ diễn ra đều đặn, bao nhiêu thóc, sắn khoai và đàn gà vừa xuống ổ cũng thành tiền, tiền lại thành cơm đen, thành khói thuốc phiện cho hắn. Đúng lúc mụ Mẹt đang túng và quẫn, thì một lão già người Dao trèo lên tận nương sắn thì thầm với mụ. Lão già về rồi, mừng như người nhặt được vàng, vung cuốc vào gốc, làm những củ sắn vỡ be bét, mụ lẩm bẩm một mình: Có thế mà không nghĩ ra!... Từ hôm ấy, mỗi lần đi mua thuốc phiện cho chồng, thế nào mụ cũng mua thêm về bán dấm dúi cho mấy con nghiện trong xã.  Một hôm phải lên vùng cao tìm thuốc phiện cho chồng, hai ngày sau Mẹt về đến đầu làng bỗng thấy có đám ma khóc í ới. Nhận ra tiếng khóc thảm thiết của mấy đứa con, mụ hoảng hốt lao tới. Buổi sáng hôm mụ đi thì chiều, mấy đứa con đi làm nương về thấy bố nằm im, chúng lật tung chăn thì người bố đã lạnh từ lúc nào không rõ. 
 
Chồng chết, Mẹt như trút được gánh nặng nhưng máu tham lam vẫn dắt mụ tìm đến với thứ hàng có lãi cao ấy. Lấy cớ túng thiếu, Mẹt chuyển nhà ra ngoài đường cái ở, mua bán vặt vãnh kiếm thêm tiền. Dạo ấy gạo rất khan hiếm, Mẹt làm bánh sắn, rang ngô bán cho khách qua đường. Người trong làng ai cũng ái ngại cho mẹ con nhà Mẹt nên người ta có mía, có chuối, có đu đủ chín... đều mang ra bán rẻ. Lợi thế của nhị cận lộ nên nhà thị lúc nào cũng có người ra người vào. Từ huyện lên trung tâm xã Phìn Chải hơn bốn chục cây số, rồi đi các xã khác nhưng đến nhà thị chỉ mới có nửa đường. Chỉ là đường đi bộ và thồ ngựa, có xe đạp thì phải vác lên dốc. Mỗi ngày tuy chỉ dăm ba chục người là bộ đội, cán bộ, giáo viên đi công tác, người Mông, người Hà Nhì, người Dao qua lại đều ghé vào nhà Mẹt, khi mua hàng khi đổ gạo ra nấu nhờ cơm, nghỉ hút nhờ điếu thuốc. Trong dòng người tuy lưa thưa ấy, Mẹt đã tìm được những người có thuốc phiện. Thế là không phải đi đâu xa, thị ở nhà nhưng vẫn có hàng đến hàng đi. Để tránh con mắt nhòm ngó của mọi người, không bao giờ Mẹt giao nhận thuốc trong nhà, thị dặn chỗ để hàng ngoài hốc cây, kẽ đá nào đó là có người mang đến và có kẻ lấy đi. Chỉ mấy phút, một kẻ lạ vào xin nước uống, nhờ hút thuốc lào, là đã rõ tiền hàng đến để ở đâu, bao nhiêu. Không ai biết người mẹ quanh năm nhếch nhác nuôi năm đứa con lại là người buôn thuốc phiện. Dần dần mụ thiết lập được đường dây buôn bán nhưng không ai biết ai, trừ thị.
Chuyện làm ăn tuy vẫn kín như bưng nhưng cũng nhiều lúc chẳng thuận buồm xuôi gió. Mỗi vụ mất hàng, bao giờ mụ cũng tìm rõ ngọn ngành. Nếu mất số tiền hàng quá lớn hay có thể bị lộ, thì thế nào cũng có kẻ về chầu trời. Thằng Díu Ngan, người Dao trên Phìn Chải dấu thuốc trên rừng, bị dân quân phát hiện thu mất hai cân. Còn ba cân nữa nó bảo tìm mãi không thấy. Nó cả gan bảo mụ nhờ công an đi tìm hộ. Chưa đầy một tháng sau, Díu Ngan đi đám cưới uống rượu say, đêm chuệnh choạng ra bãi cỏ đầu bản nằm, sáng hôm sau người ta đến lay thì hắn đã tắt thở. Con mụ Dơ người Mông trên bản Lùng Thàng, ôm của mụ gần ba cân thuốc phiện nhưng nó cãi bay không nhận được hàng. Mụ Mẹt lần ra số thuốc ấy được bán tận sang bên kia biên giới cho kẻ khác. Chưa đầy nửa tháng sau, người ta thấy nó đã chết trương phềnh trên lều nương, trong miệng vẫn còn ngậm lá ngón. Thằng Hướng người Kinh làm công nhân giao thông, mụ vẫn một hai thề gả đứa con gái út kém mười tuổi cho hắn. Nó bảo bị công an đuổi nên phải bỏ hàng chạy. Mụ lần ra số thuốc ấy đã bị thằng Hướng chuyển tận về xuôi. Thằng rể tương lai ấy, chẳng hiểu sao treo cổ tự tử ở một cái lán công trường bỏ trống. Ba đứa bị mụ ngám ngầm ngầm xúi kẻ khác cho đi chầu trời càng làm cho mụ không tin tưởng lũ tay chân. Thuốc phiện và tiền vẫn như thứ bùa suốt ngày đêm bám theo mụ không rời. Mấy lần mụ gây dựng lại đường dây nhưng đều không tìm được kẻ tin cẩn.
 *
*   *
Năm sáu tháng liền bị bệnh đàn bà hoành hành, mụ Mẹt thấy người mệt mỏi. Mụ định lấy thuốc phiện ra chữa nhưng sợ bước vào vết chân thằng chồng. Biết trên Ngải Thầu có người chữa thuốc nam rất giỏi, mụ lần mò tìm lên. Gần một năm chữa bệnh, mụ trở thành thân rồi nhận làm con nuôi bà cụ lang Phin người Dao đỏ. Thương mụ đàn bà Kinh khổ sở vì bệnh tật nhưng thông minh và kín đáo, lại thấy mình đã cao tuổi mà theo tập tục, những bài thuốc chữa bệnh sản này không được truyền cho con cháu trong nhà, cụ nhận Mẹt làm con nuôi rồi dần dần truyền cho nghề chữa bệnh. Trước bàn thờ tổ nghề thuốc, mụ lầm rầm thề: Con là Lê Thị Mẹt, quê ở Làng Đồng Kiệu xin lạy trước bàn thờ bà tổ, được nhận làm đệ tử. Từ nay con xin hứa mang nghề của ngài truyền, chữa bệnh cứu người. Con xin nguyện chỉ làm việc lương thiện, không gây tổn hại người. Nếu con sai thì ngài vật chết như con gà mái này! Miệng nói, tay mụ quật mạnh con gà xuống đất rồi đặt dưới chân bàn thờ.
 
Không ai nghi hoặc người đàn bà khai hoang đeo gùi thuốc nam trên lưng, khi xuất hiện trong phiên chợ rẻo cao, lúc lại băm, phơi, hay ở nhà sao thuốc. Nhà mụ lại thêm người ra vào. Những ổ thuốc phiện trên vùng cao nhắn về dồn dập càng làm mụ sốt ruột. Mụ định tung mấy đứa con đi nhưng sợ chúng không có gan sẽ bị lộ. Cuối cùng Mụ tặc lưỡi quyết định đi một mình. Thỉnh thoảng người ta lại gặp người đàn bà khai hoang quần áo vá chằng vá đụp, bẩn thỉu mùi hôi nồng nặc đi lấy thuốc nam, nhưng có biết đâu lại là con dao hai lưỡi vừa hái thuốc chữa bệnh buôn thứ cơm đen chết người. Số tiền vốn ngày trước chuyển sang mua vàng, bạc trắng đem chôn kỹ, nay được moi lên. Ở đời cái kim bọc trong giẻ lâu ngày cũng lòi ra, mụ đi lại nhiều nên công an nghi hoặc. Mụ bị công an chặn giữa đường, khám trong chợ nhưng đố ai tìm được trên người mụ có thuốc phiện. Có người báo chắc chắn hơn hai cân thuốc phiện được ép trong áo bông, được mụ đi theo đường mòn Ngải Chồ xuống. Mấy người công an trong vai thợ xẻ bị lạc đường chỉ gặp mụ mặc độc chiếc áo mỏng đang ngồi trên cây gỗ đổ ngang đường nhai cơm nắm. Người ta đột ngột cho y tế đến nhà phun thuốc muỗi, yêu cầu khuân hết đồ đạc ra sân nhưng chỉ là dịp cho mụ tanh bành trình báo những thứ tài sản vứt đi. Thứ cơm đen đến tay mụ cứ biến hóa như có phép ma qủy.
 
…Hơn một năm không thấy người theo dõi, mụ quyết định đi một chuyến hàng lớn. Bao nhiêu vốn liếng mụ dồn ra cả, chuyển thành tiền và bạc trắng. Mấy ngày liền lang thang trên các bản vùng cao, trong gùi của mụ chỉ mới được lỏng chỏng mấy nắm lá thuốc nam. Mụ phàn nàn với chủ nhà phải một tuần nữa có trăng lên mới lấy thuốc được. Nào ngờ mụ lẻn đi khi gà chưa gáy lần đầu. Chiếc đèn pin đã được che chỉ xòe ra ánh sáng nhỏ miệng rá, mụ lần theo con đường đã được đánh dấu tinh vi bằng cài những mảnh gỗ mục lấp lánh ánh lân tinh. Trời sáng rõ, mụ đã đến núi Phìn Hồ Thầu, linh tính báo cho mụ biết có gì đó không ổn. Quả nhiên người mụ lên cơn sốt. Véo một mẩu thuốc phiện nhỏ bằng hạt đậu xanh, mụ bật diêm đốt lên nuốt, người càng sốt cao. Biết không mang nổi hàng về nhà nhưng mười lăm cân thuốc phiện là cả một đàn trâu chừng bốn năm chục con. Mụ gắng gượng lấy mấy miếng ni lông gói hàng cẩn thận, rồi cắt một đoạn dây rừng dài tới mười sải tay, buộc vào thả cả gói to tướng cùng sợi dây xuống ngách đá sâu hoắm. Đây chỉ là một trong những nơi dấu hàng kín đáo, mụ đã tìm được trong những lần đi lấy thuốc. Khi gói hàng đã nằm dưới đáy ngách đá, cũng là lúc người run bần bật, mụ cố gắng bò đi thật xa để không rơi xuống ngách đá ấy. Bò ra tới đường mòn thì mụ mê man bất tỉnh. Mãi gần tối, mấy người đi nương về nghe thấy tiếng rên dưới vực đá, họ hoảng hốt gọi nhau ròng dây xuống, đưa được mụ về trạm xá cấp cứu rồi chuyển ra bệnh viện. Đôi chân và hai chiếc xương đòn gánh đều bị gãy rời, người ta phải đưa mụ đi tận Hà Nội. Ở viện về, mụ trở thành kẻ tàn tật, phải đi nạng. Cũng từ đó chấm dứt cuộc đời buôn bán thứ chết người của mụ. Mụ trở thành kẻ ăn bám. Ba thằng con trai lấy vợ rồi làm nhà ra ở riêng nhưng ba đứa con dâu coi mụ như một gánh nặng, chúng xúi giục chồng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, cuối cùng mỗi đứa phải nuôi mụ một tháng. Hai đứa con gái đều lấy chồng xa, về ra ủy ban xã nằn nì, người ta thương tình làm thủ tục xin cho mụ hưởng trợ cấp tàn tật.
 
Thời gian như con dốc cứ kéo sức khỏe mụ xuống. Hơn hai chục năm sống trong tàn tật, gần năm nay mụ thấy người yếu hẳn, có hôm không nấu nổi cơn ăn. Những đồng tiền trợ cấp chỉ đủ cho mụ lần hồi qua ngày. Nghĩ đến khi nhắm mắt xuôi tay, không tiền bạc, chắc chắn mấy đứa con sẽ không lo mai táng cho mụ chu đáo, vì mụ vẫn bảo cả ba đứa con trai đều không có hiếu. Rất nhiều đêm mụ nghĩ đến Lượng đang ở ngoài tỉnh. Chiều lòng người sắp bước vào cõi hai năm mươi, thằng  Tuất con trai cả của mụ phải ra tìm Lượng nằn nì: - Bà già em gần đất xa trời nên dở chứng đòi mời bằng được anh về. Âu nghĩa tử cũng là nghĩa tận, anh giúp em về thăm bà cụ một tý!
 
*
*   *
Khi mới lên tám, Lượng theo bố mẹ đi Hải Lùng khai hoang. Ngày ấy rừng già rậm rạp lắm, từ đường cái vào nơi ở chỉ có nửa cây số mà phải rẽ dây rừng, lách qua gốc cây cả tiếng đồng hồ. Lớn lên, anh đi học trung cấp cơ khí rồi về công tác ngoài tỉnh. Từ ngày bố mẹ già yếu, Lượng đón ra ở cùng. Các cụ dần dần rủ nhau về cõi thiên thu. Đường đèo dốc xa bẩy tám chục cây số cùng công việc xí nghiệp, việc của người con độc nhất đối với cha mẹ già níu chân Lượng nên anh rất ít dịp về thăm Hải Lủng. Hơn bốn mươi năm trôi đi, rừng xưa không còn dấu vết. Đồi núi trơ sườn ra trọc lốc những mảnh nương cằn cỗi, loáng thoáng mới có một vài vạt rừng mỡ mới trồng. Trong lòng Lượng trồi lên nỗi chua xót. Tưởng chừng con người đã tạc vào đồi núi sức sống của một nền văn hóa đẹp như tranh, nhưng lại bóc đi mảnh áo giáp xanh bền vững của nó, để mỗi mùa mưa đến phải chịu đựng những trận lũ rùng rợn…
 
Lượng và Tuất về đến Hải Lùng đã gần năm giờ chiều. Những mảng sương bàng bạc từ các khe núi đẩy lên, làm cho khí trời thêm lạnh khi ánh nắng cuối ngày chỉ còn vàng vọt yếu ớt. Vườn tược nhà anh vẫn nguyên những cây cây mít, cây nhãn nhưng không có người chăm sóc nên trông như những người già lụ khụ, rễ nổi ngoằn ngoèo trên mặt đất. Năm gian nhà gỗ kè đá không bị mối đục một khoét, phải ở được cả trăm năm chưa hề hấn gì, bây giờ bị Tuất dỡ đi, xây vào đó ngôi nhà ống dài thườn thượt như toa tàu. Ngay giáp cổng vào, một căn nhà gỗ hai gian lợp ngói xi măng. Tuất dừng xe nói: Mẹ em ở đấy! Anh để xe trong nhà em lúc nữa hãy sang!
Dựng xe máy bên nhà Tuất, Lượng sang nhà cụ Mẹt. Mùi yếm khí do có người ốm lâu ngày tỏa ra rất khó chịu, khiến Lượng nôn ao nhưng anh phải gắng gượng tỏ vẻ không có gì xảy ra. Trên chiếc giường kê gian trong, bà cụ Mẹt nửa nằm nửa ngồi giữa ba bao tải trấu căng phồng. Gương mặt cụ teo tóp như từ lá cải héo bởi những nếp nhăn đan chằng chịt. Nghe tiếng Lượng, giọng bà cụ Mẹt yếu ớt:
- Có phải cậu Lượng không? Qúy hóa quá, lâu lắm không thấy cậu về. Thế là tôi chết cũng toại nguyện rồi! Lượng đặt lên đầu giường cụ túi đường sữa, hoa quả. Cụ thều thào trách: Cậu mua quà bánh làm gì cho tốn tiền. Tôi có ăn gì được đâu! Rồi cụ năn nì: Tôi muốn cậu ở đây với tôi một hai buổi. Ông bà nhà cậu và những người cùng lên đây giờ đã đi cả, tôi không còn ai thân thiết nữa!
         
Ăn cơm tối xong bên nhà Tuất, Lượng sang ngồi chơi với bà cụ Mẹt. Cụ bảo anh đỡ cho cụ ngồi tựa lưng vào cái bao trấu vì nằm nhiều đau ê ẩm khắp người. Từ kinh nghiệm đã chăm sóc bố mẹ, anh nắm bàn tay khô đét của cụ xem mạch. Tuất chạy vào nháy Lượng ra ngoài thì thầm: Em chạy ra ngoài hồ xem nước cạn nhiều chưa để sớm mai vét cá bán. Anh trông cụ hộ, cần gì gọi nhà em sang! Lượng cười: Nhịp mạch yếu, chậm nhưng không bị ngắt quãng, chưa có chuyện xấu xảy ra với cụ đâu!
Dưới ánh đèn điện nêon trắng càng làm cho gương mặt bà cụ Mẹt trông nhợt nhạt. Biết anh con trai đã đi, giọng cụ rời rạc, đứt quãng:
- Tôi không đi lại được đã sáu tháng mười ba ngày, chắc chẳng còn mấy nữa mà về với đất. Con cái không đứa nào có hiếu nên chẳng nhờ cậy được, mà có những chuyện không thể mang đi, lại càng không thể nói với chúng nó được. Chỉ có cậu là người tin cậy nên tôi bắt thằng Tuất mời cậu về!
Lượng ngỡ ngàng không biết có chuyện gì. Từ ngày lên khai hoang, bởi bán anh em xa mua láng giềng gần, nên gia đình anh và bà cụ coi nhau như anh em, những lúc cần, thiết đều có nhau. Ngày ở nhà, anh đã chứng kiến gia đình bà Mẹt thường xuyên lục đục, ông chồng chết sớm, mấy đứa con không được học hành đến nơi đến chốn, nên bà rất lận đận. Một lần đi lấy thuốc nam, bà Mẹt bị tai nạn trở thành tàn tật. Đấy là những điều anh biết được. Nay chắc trong gia đình cụ có chuyện hệ trọng lắm, phải nhờ anh đứng ra làm trung gian giải quyết với con cháu. Uống cạn chén nước nóng anh đưa, bà cụ thì thầm: Chuyện tôi nói, cậu phải giữ kín đừng nói với ai! Lượng dịu dàng:
-Vâng ạ! Có gì cụ cứ dạy!
Được lời như cởi tấm lòng, bà cụ Mẹt mừng rỡ, chỉ tay lên bàn thờ bảo Lượng lấy buộc tiền âm phủ. Nghĩ mụ giở chứng, anh định đi gọi mấy đứa con mụ. Giơ đôi tay xương xẩu ra hiệu, giọng mụ dịu lại rành rẽ: Tôi chưa đi được đâu, đừng gọi chúng nó và tôi còn chưa nói hết với cậu! Mụ run run dỡ buộc tiền âm phủ chằng cao su, giữa kẹp tiền lộ ra mảnh giấy đã ngả màu vàng. Giọng mụ thều thào:
- Cậu cứ theo mảnh giấy này mà lên núi Phìn Hồ Thầu, tìm kỹ sẽ thấy rồi cậu muốn làm gì thì tùy. Mấy đứa kia đều bất hiếu, tôi không thể  cho chúng được!
 Mụ thều thào kể lại nguồn cơn đi khai hoang, chuyện lao vào buôn thuốc phiện và chuyến buôn cuối cùng dẫn đến bị tàn phế…   
 
*
Dừng lại nghỉ, mụ thở hổn hển, nhờ anh lấy phích rót cho mụ cốc nước nóng. Càng nghe mụ kể, Lượng càng rùng mình, không ngờ người đàn bà nằm teo tóp bên cạnh anh ngồi, lại là kẻ đã gây ra chết chóc tang thương cho những người khác. Lượng nhìn đồng hồ đã chỉ mười giờ. Ngoài đồng vọng tiếng ếch ì ộp gọi bạn, tiếng dế rỉ rả tìm nhau. Trên rừng sau nhà, tiếng con chim từ quy thong thả điểm vào đêm thanh vắng những tiếng binh boong đều đặn. Uống xong cốc nước, mụ nằm lim dim như ngủ nhưng chỉ mấy phút sau, đôi mắt mờ đục lại nhấp nháy tựa hai ánh sao mờ. Từ cái miệng móm mém không còn một chiếc răng, giọng mụ phều phào:
- Tôi còn một chuyện nữa chưa nói được với cậu!..
*
*   *
…Ngày trước quê mình nghèo lắm, đồng chiêm trũng quanh năm không đủ ăn, tháng ba ngày tám mọi người đi đánh cá bắt cua. Ngày nào cũng vậy, mười người đi chợ thì chín người bán cá nên nhiều hôm ế ẩm phải mang về. Dù chỉ cách phố tỉnh có hai chục cây số nhưng với người quê cô Kẹt, ở đấy như một thế giới xa lạ. Câu nói giàu nhà quê không bằng ngồi lê thành phố thúc giục nên sẵn có tính lanh lợi, cô Mẹt liều lĩnh ra ngoài đó tìm cách buôn bán. Sáng sớm cô mua rau từ những người nhà quê gánh ra, ngồi chợ chỉ hai lần gần trưa và cuối chiều nhưng mỗi ngày Mẹt cũng kiếm được tới hai đồng. Số tiền ấy đủ đong gạo ăn cho cả nhà trong ba ngày. Cùng nhà trọ với cô có một tay chở xích lô, hai người quen nhau rồi những lúc đi vội đón hàng ngoài ngoại ô, Mẹt thường thuê hắn chở. Vài buổi đầu, Mẹt trả tiền ngay nhưng lạ thành quen, có khi năm sáu ngày mới trả mà anh xích lô vẫn vui vẻ. Có hôm hai giờ sáng đã phải đi, ngồi trên xích lô chờ hàng cả tiếng đồng hồ giữa đêm đông gió bấc, Mẹt xuýt xoa rủ anh xích lô ngồi lại gần cho ấm, thế là lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, Mẹt có thai. Thằng cha xích lô biết chuyện, bỏ đi biệt tăm. Mẹt trở thành bơ vơ với cái bụng ngày một lớn dần. Ngày ấy chuyện chửa hoang là ghê gớm lắm, Mẹt hoảng sợ ra sông Đào tự vẫn. Đúng lúc cô đang ùng ục uống nước, một bàn tay nào đó đã túm tóc kéo cô vào bờ. Khi Mẹt tỉnh lại, người đàn ông dằn từng tiếng: Chết có số, cô tưởng dễ à! Nếu chết được, tôi đã chết từ đời tám hoánh nào rồi! Người đàn ông dìu Mẹt đến  túp  lều trong ngõ nhỏ chỉ có mình anh ta ở. Rồi từ đấy cô trở thành chủ thứ hai của căn lều lụp xụp. Sáng sớm cô vẫn ra chợ bán rau, cua, cá và ngày ngày Đương, người đàn ông ấy vẫn ra bến sông bốc hàng. Một buổi tối sau bữa cơm, Mẹt vừa rửa bát xong định vào giường nằm nghỉ, bất ngờ Đương kéo tay cô ngồi xuống manh chiếu. Rút chiếc tăm trong miệng búng ra đất, giọng hắn dằn từng tiếng: Tôi nghĩ mãi rồi, khi sinh nở mẹ tròn con vuông, cô cho quách đứa bé đi, tôi cần cô có con cho tôi chứ không phải thằng khác!
 
Mẹt trở nên khó xử. Về quê có khác nào cho bố mẹ đeo mo vào mặt. Cái thai trong bụng lại sắp đến ngày chào đời, không cho cô nghĩ đến tự tử lần thứ hai. Lại trở về nhà trọ cũ ư? Ơn cứu mạng của hắn lớn lắm, hắn vừa là chồng vừa là người sinh ra Mẹt lần nữa… Vận may đến với Mẹt ngay sáng hôm sau, lúc ghé vào hàng gạo. Khi cô đếm tiền trả thì người bán gạo nắm lấy tay cô mừng rỡ: Giời đất ơi! Cả năm nay không thấy cô về, mọi người đang đồn cô đi Thanh Hóa hay Thái Nguyên buôn bán! Nhìn chằm chằm vào bụng ộ ệ của Mẹt, chị ta reo lên: Ồ! May mắn thế, hay là bảo chú ấy đưa về quê ở cữ! Mẹt nhận ra chị là người cùng xã, chị em vẫn đi xúc tôm, đánh cá với nhau. Vợ chồng chị  lấy nhau đã bảy tám năm mà chưa có mụn con nào. Mừng gặp được người quen và tủi phận mình, Mẹt sụt sùi kể lại sự tình... Đúng ngày Mẹt vào nhà thương vượt cạn, chị đến chăm sóc rồi đón thằng bé về nuôi. Người ta chỉ biết chị xin được thằng bé kháu khỉnh ở ngoài nhà thương tỉnh về…
*
*   *
Khi gà gáy lần thứ hai, dù đã mệt lả nhưng sợ phải đi với tử thần, mắt như sáng lóe lên nhìn thẳng vào Lượng, giọng mụ chua xót:
 - Chắc bà Thụ không bao gìờ nói với cậu, nhưng tôi là người cuối cùng ra đi, nên phải cho cậu biết. Đứa con trai ấy chính là cậu và người hàng xã với tôi không phải ai xa lạ, đó là người đã nuôi cậu từ lúc lọt lòng. Cũng vì máu chảy đến đâu ruồi bâu đến đấy, nên tôi mới tìm mọi cách theo cậu lên đây. Nhưng giời bắt tội tôi lấy phải người chồng vũ phu nên không bao giờ tôi dám hé răng với ai về chuyện này. Đến cuối đời, tôi lại thấy xấu hổ với cậu vì những việc tôi đã hại người!
Mụ lần tay xuống dưới chiếu, lấy ra nửa chiếc vòng đeo cổ của trẻ con được làm bằng bạc trắng, giọng thều thào: Nếu cậu không tin thì đây! Chắc chắn trước lúc ra đi, bà Thụ đã đưa  cho anh nửa chiếc vòng còn lại như chị em đã giao hẹn với nhau. Chắp hai nửa chiếc vòng lại, sẽ thấy hình con rồng quấn quanh, để nhớ năm ấy là năm Nhâm Thìn. Đuôi của nó nằm ở nửa chiếc vòng này!
 Hai tròng mắt ngân ngân nước, mụ nấc lên:
- Để tôi không phải mang hận xuống mồ, tôi lạy cậu cho tôi được một lần gọi cậu bằng con!  
 
Nguyễn Xuân Mẫn
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn