08:10 ICT Chủ nhật, 22/04/2018
h

Trang nhất » Tin Tức » Văn Xuôi

Nghiệp văn chương - Phần 1 (Đắc Trung)

Thứ sáu - 10/03/2017 15:57

NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

 
                                                                          Nhà văn:   ĐẮC TRUNG
                                       ( Trích hồi ký)
1
 

 
 Những người có ý thức về giá trị cuộc sống của mình thường quan tâm tới ba việc lớn: lập thân, lập nghiệp và lập danh. Muốn thực hiện được ba việc ấy thì định hướng cuộc đời vô cùng quan trọng. Thành, bại là ở đấy. Cho dù hành trang có được chuẩn bị chu đáo, nghĩa là sức khoẻ tốt, đức tài đều tốt nhưng định hướng sai cũng hỏng. Giống như loài chim mông cựu giỏi làm tổ. Nó dùng lông của mình và những sợi dây bện chặt, rất bền, rất đẹp nhưng lại kết tổ trên ngọn bông lau bông lách. Kết quả một trận gió mạnh, một cơn mưa lớn lau lách đều bị đổ, bị gãy, trứng rơi vỡ và chim non chết. Đâu phải chim không biết làm tổ, chỉ vì nó chọn sai nơi đặt tổ mà gặp họa.
 Con người cũng vậy, nếu định hướng cuộc đời không đúng, bỏ sở trường theo sở đoản, đi sai lối, ngồi sai chỗ thì hoặc thất bại, hoặc phải trả giá đắt. Giống một con hổ khờ dại do không đắn đo suy xét, nhầm đường mà sa bẫy, một chân bị cột chặt. Hổ cố vùng vẫy nhưng không được. Cuối cùng nó phải tự cắn đứt chân mà chạy. Đâu phải hổ không tiếc chân mình, nhưng nó biết rằng muốn sửa chữa sai lầm, muốn thoát chết thì phải chịu đau đớn, vì tương lai lâu dài buộc phải hy sinh một phần cơ thể để đi tìm hướng khác tạo lập cuộc sống.
 Hai chuyện trên tôi được nghe bố kể. Năm ấy tôi đang học lớp bẩy, mê đọc sách và rất mộng văn chương. Bố tôi bảo: "Cụ Cao Bá Quát nói: lập thân tối hạ thị văn chương, nhưng theo bố đó là nghề cao quý. Có điều gian truân vất vả lắm mà khó thành đạt". Dường như phần nào bố đã đoán được ước nguyện của tôi, cụ kể vài câu chuyện như thế, nêu vấn đề chung chung như thế để tôi cân nhắc lựa chọn.
 Năm 1953 tôi học trường Vườn Dâu (nay là trường Trần Tế Xương) ở cuối phố Hàng Cót thành phố Nam Định. Bấy giờ thành phố còn nằm trong vùng tạm chiếm của Pháp, nhỏ và ít dân chứ không rộng và đông vui như ngày nay. Hồ La Két nằm lọt giữa vùng đất trồng rau, trồng đay. Bọn nhóc chúng tôi thường ra đấy câu cá. Khác các bạn, trên tay tôi lúc nào cũng cầm quyển sách và chăm chú đọc, đến nỗi cá ngậm mồi lôi cả cần câu đi mà không biết. Trên Phố Khách (có nhiều Hoa Kiều buôn bán nên gọi Phố Khách) có hai hiệu cho thuê sách, một hào tiền Đông Dương một quyển mỗi ngày. Ngồi đọc tại chỗ được, mà đem về nhà đọc cũng được. Tôi thường xin tiền bố. Bố nói: "Cho tiền con thuê sách đọc, bố không tiếc". Có sách, tôi mê mải, nghiến ngấu, nhất là loại kiếm hiệp. Những "Chinh đông, chinh tây", "Ngũ hổ bình Liêu", "Ngũ hổ bình Nam", "Bạch bào tiểu khách"...tôi thuộc hết nội dung, nhiều nhân vật tôi nhớ đến bây giờ và chất giang hồ nghĩa hiệp gây ấn tượng rất sâu đậm trong cuộc sống tinh thần tôi, ảnh hưởng đến cả thế giới quan sáng tác của tôi sau này.
 Thật ra đọc sách đối với tôi ngày ấy chỉ do nhu cầu giải trí, nhưng rồi càng đọc, càng mê, càng nghiện. Suốt tới tuổi trưởng thành, nhất là sau này tốt nghiệp đại học, về làm biên tập xuất bản, làm báo, viết văn thì đọc sách đã trở thành nếp sống không thể thiếu.
 Cổ nhân dạy: "Không sợ trong đời không có ngọc minh châu, chỉ sợ trong đầu không có một cuốn sách".Cổ nhân cũng dạy: "Đọc sách phải suy nghĩ, nếu không đọc cũng vô ích và suy nghĩ phải đọc sách, nếu không suy nghĩ chỉ quẩn quanh trong bóng tối". Sách là thày, là bạn tri âm tri kỷ. Không hiểu hỏi sách, vui buồn tìm đến với sách. Sách dạy ta, khuyên ta, đồng cảm với ta, chí tình chí nghĩa với ta mà rất vô tư trong sáng. Sách nâng nhân cách ta lên, mở rộng cho ta tầm trí tuệ, giúp ta thông thái bớt sai lầm. Đọc được nhiều sách, hiểu biết suy nghĩ được nhiều điều. Không đọc sách giống như đứng dưới chân núi chỉ thấy bốn bề cây cối um tùm rậm rạp. Đọc nhiều, sách đưa ta lên cao. Từ trên cao vẫn đôi mắt ấy nhưng nhìn được rộng hơn, rõ hơn. Vẫn đôi tay ấy nhưng khi giơ lên người từ xa có thể nhìn thấy. Vẫn âm thanh ấy nhưng khi hú gọi người từ xa có thể nghe thấy. Đọc nhiều sách giúp ta cao sâu mưu trí. Công dụng của sức chỉ có một, nhưng công dụng của mưu trí gấp ngàn lần. Giỏi kiếm thuật, giỏi võ nghệ chỉ địch nổi mấy chục người, nhưng giỏi mưu lược có thể địch nổi vạn người. Hiệp sĩ Hy Lạp có câu: "Thua thường do lỗi ở kiếm. Thắng thường do công của sách". Ở đời học ít hiểu nhiều, hơn học nhiều hiểu ít. Mà muốn hiểu nhiều thì phải đọc. Văn Miếu ở Quốc Tử Giám (Hà Nội) thờ Khổng Tử ông thánh của Đạo Nho. Trong đó có bức hòanh phi đề ba chữ: "Thập đại thành". Đó là câu rút ra từ sách "Luận ngữ" của ngài. Sách viết: "Tập tiên thánh chi đại thành". Nghĩa là phải học kỹ lưỡng, học tất cả các bậc hiền triết không trừ một ai. Mà muốn làm được thì phải đọc. Tuy nhiên biết đọc cũng không dễ, nhất là đọc văn. Đọc bằng mắt thì cái hay vào đầu. Đọc bằng óc thì cái hay vào máu. Đọc bằng tâm thì cái hay vào xương tuỷ. Hữu ích của việc đọc khỏi cần bàn. Biết bao nhân tài kiệt suất nhờ đọc sách. Trương Lương thời Tiền Hán xuất thân dòng dõi danh gia vọng tộc, từ nhỏ đã dùi mài bách thư, đọc nhiều hiểu rộng. Có lần gặp một cụ già râu tóc bạc phơ trên cầu. Chiếc giầy rơi xuống sông, cụ bảo Trương Lương như ra lệnh: "Hãy vớt lên cho lão". Xuất thân cao quý, bị xúc phạm thế nhưng Trương Lương không phật ý, xuống vớt giầy lên giúp ông lão. Không cám ơn, ông lão vẫn ngồi giơ chân sai Trương Lương xỏ giầy cho mình. Trương Lương quỳ xuống làm theo. Ông lão nói: "Vào lúc bình minh năm ngày sau đến gặp lão tại đây", rồi bỏ đi. Năm ngày sau theo hẹn, Trương Lương đến, đã thấy ông lão. Ông lão trách sao đến muộn. Hẹn bình minh năm ngày sau lại đến. Lần thứ hai Trương Lương đến sớm hơn, tới nơi cũng đã thấy ông lão. Lần này ông bực tức quát mắng, Trương Lương nhẫn nhịn. Ông lại hẹn bình minh năm ngày sau. Lần này Trương Lương đến từ nửa đêm ngồi đợi bình minh. Khi tới đã thấy chàng trai có mặt, ông vui vẻ đưa cho cuốn sách, nói: "Đọc cuốn sách này có thể làm thày của vua. Mười năm sau thiên hạ sẽ đại loạn. Mười ba năm sau ta và người gặp nhau ở Tế Bắc. Tảng đá vàng nằm dưới chân núi Cốc Thành chính là ta đó". Nói rồi ông lão bỏ đi. Trương Lương mở sách coi. Đó là cuốn"Thái Công binh pháp", (Thái Công là Khương Tử Nha thời nhà Chu, mưu lược gia lỗi lạc). Hơn được ngọc quý, Trương Lương ngày đêm nghiên cứu, nghiền ngẫm hiểu dần những điều kỳ diệu, uyên thâm trong sách. Nhờ thế sau này trở thành đại quân sư của Hoàng đế Lưu Bang, rất tinh thông thao lược, túc trí đa mưu "trù hoạch trong màn trướng mà quyết thắng nơi ngàn dặm". Mười ba năm sau Trương Lương đi Tế Bắc tìm đến núi Cốc Thành, quả nhiên ở chân núi có tảng đá lớn màu vàng cao sừng sững vội cúi đầu quỳ lạy. Chuyện ông già kỳ lạ chẳng biết có không, nhưng nhờ đọc và nghiền ngẫm sách "Thái Công binh pháp" mà Trương Lương trở nên phi phàm kiệt suất là thật. Mới thấy sức mạnh kỳ diệu của sách và những người có hoài bão lớn, ý chí nghị lực lớn, hiếu học và hiếu đọc tất sẽ thành công lớn.
 Thời Tam Quốc, Lã Mông là danh tướng nước Ngô. Mồ côi cha từ nhỏ, hàn vi nhưng có chí. Thiên hạ đại loạn cùng mẹ chạy sang đất Ngô theo Đặng Đang là anh rể làm chức Biệt Bộ tư mã dưới trướng Tôn Quyền, rồi được thay chức ấy khi anh rể chết và được Tôn Quyền yêu mến. Có tài lại dũng cảm, đánh đâu thắng đấy được Tôn Quyền phong dần tới chức Hoàng Dã trung lang tướng. Biết Lã Mông có cơ trí, trọng nghĩa khí nhưng do ít học nên tính tình nóng nảy cục cằn "hữu dũng vô mưu" không có tài thao lược, muốn triển vọng phải cần tri thức. Một hôm Tôn Quyền nói với Lã Mông: "Bây giờ khanh đã nắm giữ chức vụ quan trọng của quốc gia nên phải chăm chỉ đọc sách và suy nghĩ. Có như thế mới cống hiến được nhiều cho xã tắc". Lã Mông nghe xong vẫn thản nhiên, còn nói: "Thần cả ngày bận quân vụ, rảnh rỗi lúc nào mà đọc sách". Tôn Quyền vẫn ôn tồn: "Ta chỉ khuyên khanh muốn làm nên nghiệp lớn thì phải giầu trí tuệ. Bởi thế phải chịu đọc, chịu suy nghĩ. Khanh có bận đến mấy cũng không bận bằng ta. Vậy mà ta vẫn ngày đêm tranh thủ đọc sử sách, nghiền ngẫm binh thư". Lời khuyên chân thành của bậc vua sáng khiến Lã Mông tỉnh ngộ. Từ đó ông ra công đọc sách văn, sách sử, binh thư...và nhiều loại sách khác. Càng đọc kiến thức càng mở mang, càng say mê đọc. Mấy năm sau Lỗ Túc là bậc quân sư của Tôn Quyền lâu nay vẫn xem thường Lã Mông về trí tuệ, gặp lại Lã Mông. Khi đạo đàm về chiến cuộc đương thời, luận về quá khứ, tương lai, về thế thái nhân tình Lỗ Túc hết sức kinh ngạc trước sự hiểu biết sâu sắc của Lã Mông: "Tôi không ngờ tài lược của tướng quân bây giờ đã đạt trình độ cao như thế. Thật khác hẳn với Lã Mông khi xưa chỉ biết hò hét". Lã Mông cười: "Kẻ sĩ xa nhau lâu ngày nhìn nhau mới rõ". Từ đó Lỗ Túc không dám coi thường Lã Mông, kết Lã Mông làm tâm giao tri kỷ, còn Tôn Quyền thì xem Lã Mông là "quốc sĩ".
 Kiến thức mà Lã Mông có được là do đọc chứ đâu qua trường lớp.
 Có hai tử tù chờ ngày hành quyết bị nhốt ở hai phòng giam liền nhau. Người thứ nhất không đọc gì chỉ nghĩ lung tung. Anh ta căm thù những kẻ tham lam phản bội trong băng nhóm, căm thù những người hàng xóm tò mò nhòm ngó thóc mách những việc làm mờ ám của anh ta, căm thù công an khu vực và cảnh sát điều tra, oán hận quan toà, điên cuồng lồng lộn chửi rủa, gào thét, suốt ngày đêm chỉ tính kế vượt ngục ra ngoài để trả thù. Tâm địa đen tối, nghĩ suy mù quáng khiến anh ta như con thú cùng đường. Anh ta không hề tự hỏi vì sao mình phải vào tù? Vì sao phải lãnh án tử hình? Mình đã gieo rắc bao tai họa, gây bao tội ác cho người khác, cho xã hội? Người thứ hai được thân nhân đưa vào những cuốn sách về Phật Giáo, về tâm linh, về luân lý... Anh ta đọc và suy ngẫm. Càng đọc càng ngộ ra về tiền kiếp, về luân hồi, về nhân quả, về đạo làm người, ngộ ra rằng do kiếp trước, các kiếp trước và cả kiếp này nữa mình gây ra tội lỗi mà phải gánh chịu quả báo nên không hề oán hận ai, mà chỉ tự trách mình. Rằng sau khi chết có luân hồi chuyển kiếp. Phải tu rèn phước đức, loại trừ tội lỗi thì kiếp sau sẽ tốt đẹp hơn. Nhờ đọc sách, nhờ hiểu ra chân lý, ý nghĩa của sự sống mà anh ta sám hối và trong thâm tâm chân thành xin lỗi những người mình đã trót làm tổn thương, tổn hại đến họ, thề kiếp sau nếu được làm người sẽ không nghĩ điều ác, làm điều ác...
 Khi đem ra hành quyết trên giá treo cổ. Người thứ nhất gào thét chửi rủa, giãy giụa trước khi chết nên mặt phù, mắt lồi, da tím đen, máu ựa ra, lưỡi đùn khỏi miệng hình thù biến dạng trông rất ghê rợn. Người thứ hai thanh thản, bình tĩnh tiếp nhận cái chết, máu không trào ra miệng, mặt không biến dạng, mắt khép hờ như ngủ, có thể thấy rõ sự thành tâm hướng thiện.
Đó chính là nhờ đọc sách mà thấu hiểu ý nghĩa sự sống, chết.
Cổ nhân dạy: "Đọc để được ngộ ra chân lý buổi sáng, rồi buổi chiều có phải chết cũng đáng" quả là chí lý.
Cổ nhân cũng dạy: "Khôn chết, dại chết, chỉ biết là sống". Mà muốn biết thì phải học, phải đọc.
*
*   *
 
 Sở thích đọc và cách đọc của tôi cũng dần thay đổi. Từ mê kiếm hiệp sang say văn chương, nhất là tiểu thuyết và truyện ngắn. Kịch, thơ, tản văn, ký...cũng thích nhưng không ham, đọc để biết, để thưởng thức chứ không nghiền ngẫm. Từ vớ được quyển nào đọc quyển ấy chẳng quan tâm lắm tới đề tài, thể loại, sách trong nước hay sách dịch, giai đoạn văn học này hay giai đoạn văn học khác, dòng này hay dòng khác, tác giả này hay tác giả khác...đến biết phân loại, chọn lọc. Từ đọc chỉ cốt để biết, để hiểu, đọc bằng mắt là chính đến đọc không chỉ để biết, để hiểu mà còn phân tích, nhận xét, đánh giá, suy nghĩ, nghiền ngẫm và ghi chép, nghĩa là không chỉ đọc bằng mắt mà đọc bằng óc, bằng tâm. Ghi chép những áng văn hay, vần thơ đẹp, những triết lý sâu sắc, những luận điểm mới và tiến bộ, những từ cổ, hoặc ngôn ngữ địa phương, những điển cố văn học, những trường phái của Phật Giáo, những dòng của đạo Thiên Chúa, số phận những con người mình đã gặp, phong cảnh những vùng quê mình đã đến...Ghi rất nhiều thứ của cuộc sống cả hiện tại lẫn quá khứ. Sổ tay ghi chép cứ nhiều dần. Đối với tôi đó là tài sản rất quý.
 Rồi không chỉ đọc văn chương mà mở rộng sang các lĩnh vực khác: triết học, đạo đức, tôn giáo, lịch sử, giáo dục, tâm lý, thẩm mỹ, ngôn ngữ, tập quán phong tục...cho tới cả lịch pháp, tử vi, tâm linh..vân..vân...
 Càng đọc càng yêu càng say như thứ men ngấm vào máu khiến tâm hồn lúc nào cũng lâng lâng như được sống trong một thế giới vừa thực vừa ảo. Mới biết cái thần của văn chương kỳ diệu làm sao. Đọc tiểu thuyết Nga tôi sùng bái Liep Ton-xtoi. "Chiến tranh và hoà bình" bốn tập hơn hai nghìn trang tôi đọc đi đọc lại. Nhân vật Angđrây Bonconxki thông minh, cao thượng, nội tâm phong phú và sâu sắc luôn là thần tượng mà tôi ngưỡng mộ. Không cần tính đến “Anna Karenina”, "Phục sinh" truyện ngắn, truyện vừa, chỉ một bộ tiểu thuyết lịch sử ấy thôi cũng đủ đưa ông tới đỉnh cao chói lọi của văn học Nga thế kỷ 19. Tôi đọc "Pi-e đại đế", "Con đường đau khổ" của A-lếch-xây Tônxtôi; "Những linh hồn chết", "Nhật ký người điên", của Gô-gôn; "Epghênhi Ônhêghin" của Pu-xkin; "Những đêm trắng", "Tội ác và trừng phạt" của Đôxtôiepxki; "Một tổ quý tộc", "Cha và con" của Tuốc-ghê-nhi-ep. Tôi đọc văn học Nga-Xô Viết: "Người mẹ", "Kiếm sống" của Mác-xim Gooc-ki; "Thép đã tôi thế đấy"của Ni-cô-lai Ôt-tơ-rốt-xki; "Sông Đông êm đềm" của Sô-lô-khốp; "Chiến bại", "Đội thanh niên cận vệ" của Pha-đê-ép. Đọc Ê-ren-bua, Mai-a-cốp-xki, Sê-khốp, Pau-tốp-xki, Ai-ma-tốp, Ra-un Gamzatôp, Lê-ô-nốp, Sec-nư-sep-xki... Tôi đánh giá văn học Nga hơn văn học Nga-Xô Viết.
 Tôi đọc "Rôbinxon Cruxô", "Thủ lĩnh Xingơnlơn", "Đại tá Giéc" của Đeniơn Dipho; "Gơlivơ du ký" của Gioneton Xuyp; "Hội chợ phù hoa" của Tháckơre; "Đêvit Côpơphin" của Đích-ken; "Đồi gió hú", "Giên E-rơ" của Emily Bronty; "Kịch" của Secxpia; "Ruồi trâu" của Lilitan Vôinits... thấy văn học Anh thật đáng kính trọng.
 Tôi tìm đọc các tác phẩm tiêu biểu của các tên tuổi lớn như "Những bức thư Ba Tư", "Tinh thần pháp luật" của Môngtetxkiơ; "Những bức thư triết học", "Mahomet", "Daia" của Vonte; "Khế ước xã hội", "Emin" của Giăng-giắc Rút-xô; "Nhà thờ Đức Bà Pa-ri", "Những người khốn khổ" của Vích-to Huy-gô; "Đỏ và đen" của Xtăng-đan; "Những vì sao" của Anphon Đô-đê; "Bà Bô-va-ry" của Phlô-be; "Lão Gôriô", "Ơ-giê-ni Grăng-đê", "Miếng da lừa" của Ô-nô-rê Đơ Ban-giắc; "Viên mỡ bò" của Mô-pát-xăng; "Các-men" của Mê-ri-mê; "Nữ tu sĩ" của Đi-đơ-rô; "Đứa con hoang", "Trà hoa nữ" của A-lếch-xăng Đuy-ma... Càng ngưỡng mộ nền triết học và văn học Pháp, nhất là “thế kỷ ánh sáng”.
 Tôi tìm đọc văn học Đức: "Âm mưu và tình yêu", "Những tên cướp”của Si-le; "Nỗi đau của chàng Vécte" của Gớt. Văn học Hy Lạp: "Ô-đi-xê", "I-li-át” của Homer. Văn học Ấn Độ: "Sơ-cun-tơ-la" của Ca-li-đa-sa, "Hạt bụi trong mắt", "Mùa hái quả" của Ta-go...Những năm trước tìm được sách để đọc không dễ. Phải quen thân với người của các thư viện lớn, phải trao đổi với bè bạn. Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng nguồn sách từ miền Nam ra, các nhà xuất bản phát triển mạnh điều kiện đọc tìm hiểu văn học các nước dễ dàng hơn. Văn học Tây Ban Nha có "Đông-ki-ô-tê" của Xécvantex, Nam Phi có "Con đường sấm sét" của Pi-tơ Abraham. Côlômbia có "Đại tá chờ thư", "Trăm năm cô đơn", "Ký sự về cái chết được báo trước" của Mackex. Vênêzuêla có "Người tù khổ sai", "Canh bạc" của Henri Charriên. Văn học Mỹ trước đó hầu như không được biết đến thì nay tha hồ đọc: "Sisin miền đất dữ", "Bố già", "Ông trùm cuối cùng"của Marioo Puzô, "Gót sắt", "Mác-tin I-dơn" của Giắc Lan-đơn, "Chuông nguyện hồn ai", "Ông già và biển cả" của Hêminguê... cùng văn học của nhiều nước khác. Tôi mê mải đọc ngày đọc đêm cố gắng mở rộng tầm hiểu biết văn chương của các quốc gia và các châu lục.
 Tuy nhiên thời gian và tâm sức tôi vẫn dành cho văn học Trung Quốc và Việt Nam.
 Nền văn minh Trung Hoa đã có tới hơn năm nghìn năm. Người Trung Hoa được sinh ra từ "chiếc nôi của nhân loại". Họ có chữ viết, biết tổ chức bộ máy nhà nước, phát minh ra la bàn và công nghệ làm giấy, chế tạo thuốc nổ và xây dựng công trình vĩ đại Vạn Lý Trường Thành từ những thế kỷ trước công nguyên. Họ sáng chế công nghệ in, tìm ra số Pi = 3, 1416 trong toán học, khám phá "con đường tơ lụa" trên sa mạc ở Nam Bắc Thiên Sơn, "con đường tơ lụa" trên biển nối Trung Quốc với các vùng Tây Á và các nước Á Phi mở kỷ nguyên giao thương cả kinh tế và văn hoá. Họ soạn lịch pháp từ triều Nguyên, xác định một năm có 365, 2425 ngày, biết làm tên lửa đốt bằng diêm sinh bay thử mở ra kỷ nguyên hàng không. Diện tích quá lớn (một cánh đồng của tỉnh Tứ Xuyên rộng hơn diện tích cả nước Việt Nam), địa hình chủ yếu do các dãy núi đổ từ Bắc tới Nam, những con sông chảy từ Tây sang Đông chia Trung Hoa làm nhiều miền có tới hàng trăm dân tộc khác nhau với những đặc điểm sinh sống, văn hoá và tập quán khác nhau. Nền văn minh Trung Hoa là tổng hoà các nền văn hoá ấy nên rất phong phú. Tuy đa dạng, nhưng địa hình Trung Hoa hình thành khá rõ làm hai miền lớn: từ lưu vực sông Hoàng Hà ngược lên phía Bắc khí hậu khô lạnh, đất đai cằn, ít màu mỡ, cây cối tiêu điều, muông thú sản vật nghèo.Từ lưu vực sông Dương Tử đổ xuống phía Nam khí hậu ấm áp, đất đai phì nhiêu, cây cối xanh tốt, muông thú, sản vật phong phú. Do điều kiện tự nhiên ấy mà tính cách người Bắc và Nam có những đặc điểm khác nhau. Dân Bắc phải gắng sức, gồng mình lên để kiếm sống, cần kiệm sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn cực khổ, nguy hiểm, ý chí kiên cường và thực dụng. Dân Nam thích an vui nhàn tản, thiên tình cảm, trọng đạo nghĩa và giầu mơ mộng. Sách "Trung dung" viết: "Khoan nhu mà dạy và tha thứ kẻ vô đạo đó là cái cường của người phương Nam - người quân tử. Nằm trên áo giáp và binh khí, chết không sợ, đó là cái cường của người phương Bắc - người anh hùng". Dù từ các mặt tính cách khác nhau ấy, nhưng do cùng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Đạo Khổng, Đạo Lão, Đạo Phật dần dần hoà hợp nhau thành những nét tiêu biểu chung: nhân ái, siêng năng, kiên nhẫn, tự tin, có ý thức gia đình, gia tộc, cộng đồng, dân tộc cao và trọng lễ nghĩa. Người Trung Hoa rất tự hào bởi về văn hoá từ trước và đầu công nguyên họ đã có những tên tuổi lớn. Triết học: Lão Tử, Khổng Tử, Trang Tử, Mạnh Tử, Tăng Tử. Xã hội học: Hàn Phi Tử. Binh pháp: Tôn Tử, Tôn Tẫn. Y học: Hoa Đà, Hoàng Phổ Mật. Dược học: Lý Thời Trân, Trương Trọng Cảnh. Lịch sử: Tư Mã Thiên. Hội hoạ: Tề Bạch Thạch. Văn học: Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Văn Thiên Trường, Vương An Thạch, Tô Đông Pha, Hà Dũ, Liễu Tôn Nguyên... Do đặc điểm phong phú cả địa hình và dân tộc, tự nhiên và xã hội như thế, lại xuất phát từ nền tảng vững vàng sâu rộng như thế nên văn hoá Trung Hoa phát triển vô cùng rực rỡ, khiến những ai đã từng nghiên cứu không thể không ngưỡng mộ.
 Tôi đọc Khổng Tử, sách của ông và những sách viết về ông. Rất thấm thía Đạo quân tửThuyết trung dung do ông chủ xướng. Sau này khi nghiên cứu về Bác Hồ mới biết cụ rất hiểu Khổng Tử và ảnh hưởng sâu sắc từ bậc thánh nhân ấy. Khổng Tử nói: "Dân vi bản" (dân là căn bản) – Bác Hồ dạy: "Dân là gốc". Khổng Tử nói: "Tiên trách kỷ, hậu trách nhân" (trách mình trước, trách người sau) – Bác Hồ dạy: "Tự phê bình và phê bình". Khổng Tử nói: "Vi quốc giả bất hoạn bần, nhi hoạn bất quân" (Người trị nước không lo dân nghèo, mà lo không công bằng) – Bác Hồ dạy: "Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng"...Tôi đọc Lão Tử rất thấm thía thuyết "Vô vi" của ông và thấy thanh thản hơn trong cuộc sống. Đọc Mạnh Tử, Tăng Tử, Trang Tử để rộng thêm, sâu thêm tầm hiểu biết về các bậc hiền triết. Tôi đọc Tư Mã Thiên và rất ngưỡng mộ cả trí thức lẫn quan điểm đánh giá, bình luận của sử gia vĩ đại ấy. Tôi đọc Tôn Tử và vô cùng kinh ngạc sự uyên thâm sâu sắc đầy tính thực tiễn về binh pháp của ông. Tôi đọc Hàn Phi Tử càng hiểu rằng lịch sử muốn phát triển tất yếu phải quản lý điều hành xã hội bằng luật pháp. Tôi đọc triết và sử để biết chứ vẫn thiên về văn chương. Tôi đọc "Kinh thi" là những sáng tác dân gian được Khổng Tử sưu tầm, biên soạn dùng để dạy cho môn sinh, nội dung rất phong phú phản ánh nhiều mặt của đời sống xã hội từ đời Chu. Đọc "Tả truyện" bộ biên niên sử viết dưới dạng văn học ghi chép khá sinh động những sự kiện và nhân vật từ thời Xuân Thu. Đọc "Tam quốc diễn nghĩa" bộ tiểu thuyết lịch sử của La Quán Trung phản ánh cuộc chiến giữa ba nước Nguỵ - Thục – Ngô viết theo kết cấu chương hồi, văn phong giản dị, trong sáng, sự kiện rất nhiều, vụ việc rất nhiều mà rất mạch lạc không rối, không lẫn. Nhân vật cũng rất nhiều mà số phận, tính cách nhân vật nào ra nhân vật ấy. Những Lưu Bị, Gia Cát Lượng, Quan Vân Trường, Trương Phi, Triệu Tử Long, Tôn Quyền, Chu Du, Tào Tháo...vượt qua không gian, vượt qua thời gian sống mãi trong tâm hồn mọi thế hệ bạn đọc. Tôi say mê "Tây du ký" của Vương Thừa Ân viết về cuộc hành trình của đại sư Trần Huyền Trang đời Đường cùng ba đệ tử là Tôn Ngộ Không, Chư Bát Giới và Sa Tăng vượt qua muôn vàn trùng điệp núi cao, rừng sâu, vực thẳm, đối đầu với biết bao khó khăn hiểm nguy ròng rã hàng năm trời tìm đến đất Phật tận Tây Trúc (Ấn Độ) lấy kinh. Chỉ xoay quanh bốn nhân vật thế thôi mà vô cùng hấp dẫn, đã đọc "Tây du ký" thì không thể quên. Vì sao? Vì hay quá, sâu sắc quá, điển hình quá. Bốn nhân vật trong truyện chính là sự cô đúc bốn mặt tính cách ở mỗi con người. Đọc "Tây du ký" ai cũng thấy mình có một chút của Đường Tăng: nhân ái vị tha đến mức ngây ngô thiếu tỉnh táo, không phân biệt nổi đúng sai, thật giả, thiện với ác, người với quỷ. Thấy mình có một chút của Tôn Ngộ Không: thông minh, dũng cảm, hào hiệp, trung thành, nóng nảy và hóm hỉnh. Thấy mình có một chút của Chư Bát Giới: thiếu ý chí, bản lĩnh, tham lam, háo sắc, lười nhác, sợ trách nhiệm, tranh công đổ lỗi. Thấy mình có một chút của Sa Tăng: cần cù, trung thực, nhường nhịn, cam chịu, ngại va chạm, thích lối sống "mũ ni che tai". Đọc "Thuỷ hử" của Thi Nại Am, nhà văn cho tới nay chưa rõ lai lịch và cũng chỉ để lại duy nhất cuốn tiểu thuyết nổi tiếng ấy. "Thuỷ hử" viết về cuộc khởi nghĩa của nông dân cuối triều Bắc Tống, căn cứ địa là vùng đầm nước Lương Sơn giữa núi rừng trùng điệp tỉnh Sơn Đông. 108 anh hùng hảo hán, mỗi người mỗi số phận, mỗi tính cách chỉ huy hàng vạn nghĩa quân, làm mưa làm gió khiến triều đình khốn đốn. Bối cảnh phong phú, tình tiết ly kỳ, mâu thuẫn, xung đột triền miên, áp lực căng thẳng giữa chế độ phong kiến tàn ác với sự phản kháng quyết tử của các anh hùng Lương Sơn Bạc. Nhân vật đầy sức sống và cá tính rất độc đáo khiến người đọc không ngừng bị lôi cuốn. Ấn tượng về Triều Cái, Tống Giang, Lỗ Trí Thâm, Hắc toàn phong Lý Quỳ, Võ Tòng... rất sâu sắc. "Thuỷ hử" không chỉ phản ánh mà còn góp phần lý giải nhiều vấn đề lịch sử kể cả nguyên nhân khởi nghĩa thất bại. Bộ "Đông Chu liệt quốc" của Phùng Mộng Long, một tuyệt tác của văn học cổ Trung Hoa, ghi chép khá chân thực về các cuộc chiến tranh, các mưu đồ vương bá, sự hình thành và bại vong của nhiều triều đại, trí tuệ uyên bác, thâm thuý, sâu sắc của các nhà du thuyết, các bậc minh vương. Đọc "Hồng lâu mộng" của Tào Tuyết Cần. Dựa vào mối tình giữa hai anh em con cô con cậu Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc tác giả phản ánh khá sinh động về cuộc sống của tầng lớp quý tộc triều nhà Thanh với tất cả hay dở, tốt xấu, cao đẹp và thối nát... Đó là hình ảnh thu hẹp của xã hội phong kiến ở giai đoạn suy tàn được ngụy trang bằng cái vẻ bề ngoài hào nhoáng, tôn nghiêm giả tạo. "Hồng lâu mộng" vượt trội bởi tính chân thực về nội dung và sâu sắc về tâm lý nhân vật. Đọc "Chung vô diệm", "Kim bình mai"... và nhiều tác phẩm, tác giả tiêu biểu khác của văn học thời phong kiến quân chủ.
 Từ sau Cách mạng Tân Hợi (1911) tiếp đến thời Trung Hoa dân quốc rồi Trung Hoa cộng sản văn học phát triển mạnh với sự xuất hiện của không ít tác giả, tác phẩm như Mao Thuẫn, Lão Xá, Lỗ Tấn, Ba Kim, Quách Mạt Nhược, Tào Ngu... nhưng chẳng để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong tôi như văn học giai đoạn trước. Không những thế "Cách mạng văn hoá" dưới thời Mao Trạch Đông đã tàn phá nền văn học và để lại hậu quả rất nặng nề.
 Tôi ý thức dành thời gian và sự say mê cho văn học Việt Nam. Là quốc gia nhỏ nằm sát với nước Trung Hoa mênh mông lại có nền văn minh lâu đời và chói lọi, chúng ta không thể không chịu ảnh hưởng, đặc biệt khi chưa có văn tự riêng ta phải dùng chữ Hán và phải chịu hàng ngàn năm bị người Trung Hoa đô hộ. Họ tìm mọi cách cố tình đồng hoá nhưng không thể làm được. Văn hoá của ta, văn học của ta luôn có sức sống riêng. Chẳng hạn quan niệm về "Hiếu" của người Việt Nam ta rất khác Trung Quốc. Theo sách "Hiếu kinh" người Trung Quốc quan niệm "hiếu" là "thân thể, tóc da nhận từ cha mẹ không được làm tổn thương. Đó là khởi đầu của "hiếu". Lập thân hành đạo dương danh với hậu thế. Đó là kết cục của"hiếu"”. Người Việt ta không quan niệm thế nên mới cắt tóc xăm mình. Theo sách "Tiền hán thư" thì tục xăm mình có từ xa xưa, bởi người Việt coi mình là con rồng, xăm mình cho giống với tổ tiên. Đến đời Lý nhà vua mới ban sắc chỉ cho phép bỏ. Người Việt cũng không cho rằng "lập thân hành đạo dương danh với hậu thế là kết cục của "hiếú"”, mà "hiếu” là phải "giúp nghèo, cứu thiếu, thương nuôi quần sinh" (theo sách "Lục độ tập kinh"). Rõ ràng hai yếu tố chính của người Trung Quốc về "hiếu" đều không được người Việt ta chấp nhận, mà ta có quan niệm riêng của mình. Hoặc Mạnh Tử, triết gia Trung Quốc nêu: "Bất hiếu có ba, không người nối dõi là lớn nhất" (bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại). Người nối dõi phải là con trai – "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô". Nghĩa là không có con trai là "bất hiếu". Người Việt quan niệm khác. Cũng theo sách “Lục độ tập kinh" viết: "Người đạo cao thì đức rộng. Ta muốn cái đạo vô dục, đạo đó mới quý. Đem đạo truyền cho thần, đem đức trao cho thánh, thần thánh truyền nhau cái đạo giáo hoá vĩ đại không hư nát, đó mới là sự nối dõi tốt lành và lâu dài". Rõ ràng người Việt ta cho rằng cái quý không phải ở cái thể xác con người nam hay nữ, có hay không con, mà là ở cái đạođức. Đó mới quý, mới lưu truyền mãi, mới không hư nát, mới vĩ đại. Không giữ được đạođức mới là "bất hiếu". Không nhất thiết phải só sự thừa tự bằng con cái, mà căn bản là thừa tự bằng đạo đức.
 Việt Nam có được sức sống và vị thế như ngày nay, chúng ta phải vô vàn biết ơn cha, ông, tổ tiên mình đã bảo vệ, giữ gìn được bản sắc dân tộc. Một quốc gia nếu để mất "biên giới văn hoá" thì trước sau nhất định sẽ diệt vong.
 Tuy nhiên không phải không ảnh hưởng. Có, nhưng chúng ta chỉ tiếp thu những yếu tố tích cực và phù hợp với truyền thống văn hoá của mình. Chẳng hạn tư tưởng của Khổng Tử, của Lão Tử, Trang Tử...chi phối rất nhiều đến thế giới quan người Việt. Chẳng hạn các nhà thơ Việt Nam đã học được rất nhiều ở các thi nhân lớn Trung Hoa như: Tô Đông Pha, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị...Đặc biệt chất thơ văn tràn đầy nhân cách cao thượng, khí phách hiên ngang không chịu khuất phục trước kẻ thù của Văn Thiên Tường đời Tống khi ông bị quân Nguyên bắt nhốt trong ngục đã ảnh hưởng rất sâu sắc tới văn học yêu nước của ta thế kỷ 19. Tuy chữ viết ra đời muộn nhưng tổ tiên ông cha đã để lại cho chúng ta tài sản văn học truyền miệng rất phong phú. Đó là những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao, dân ca, là những truyện cổ tích, thần thoại, tiếu lâm...Còn tồn tại trong dân gian hoặc đã được sưu tầm biên soạn thành sách như: "Lĩnh nam chích quái", "Tục ngữ ca dao Việt nam", "Truyện cổ tích Việt Nam", "Truyện thần thoại Việt Nam" và nhiều truyện khuyết danh như: "Tống Trân-Cúc Hoa", Phạm Tải-Ngọc Hoa”, "Trê Cóc", "Phương Hoa”, “Hoàng Trừu", "Thạch Sanh", "Thoại Khanh-Châu Tuấn"... Đó là dòng văn học bình dân, ra đời trước khi có chữ viết và sau này vẫn không ngừng phát triển song song với các dòng văn học khác. Nó phản ánh sinh động mọi mặt đời sống con người về nhận thức lý giải các hiện tượng tự nhiên, xã hội, về kinh nghiệm sản xuất, về đối nhân xử thế với nhau, về quan hệ tình yêu, hôn nhân, gia đình và cộng đồng, về triết lý nhân sinh, về thái độ đối với trật tự xã hội, ca ngợi các vị thần, những nhân vật có công với dân với nước, châm biếm diễu cợt, phê phán những thói hư tật xấu...Từ khi có chữ viết văn học thành văn của ta càng phát triển mạnh. Các tác giả, tác phẩm tiêu biểu xuất hiện và dần dần hình thành đặc điểm của từng giai đoạn:
 Từ thế kỷ 10 đến nửa đầu thế kỷ 19.
 Thành tựu văn học giai đoạn này thuộc các triều Lý - Trần - Lê Sơ - Mạc và Lê Trung Hưng. Bối cảnh lịch sử có thăng trầm, có thịnh, suy và có bi hùng mà văn học đã phần nào phản ánh được. Đề tài phong phú, song bao trùm vẫn là lòng yêu nước, thương dân, ý thức tự tôn dân tộc và ảnh hưởng rất rõ giáo lý Đạo Phật, Đạo Nho. Tiêu biểu là Lý Thái Tổ với "Chiếu dời đô" thể hiện tầm nhìn xa trông rộng và khí phách lớn của dân ta, Lý Thường Kiệt với "Nam quốc sơn hà", bản tuyên ngôn độc lập của quốc gia Đại Việt, Trần Quốc Tuấn với "Hịch tướng sĩ văn", Trần Thánh Tông với "Thánh Tông thi tập", Phạm Sư Mạnh với "Hiệp thạch tập”, Trần Quang Khải với "Lạc đạo tập"...Hầu như mỗi vua nhà Trần đều có thi tập của mình. Văn học thời Trần toát lên lòng yêu nước tha thiết, khí phách hào hùng và tình nhân ái cao cả. Từ thế kỷ 15 Nho Giáo thay thế Phật Giáo làm nền tảng cho ý thức hệ, tầng lớp nho sĩ lớn mạnh, không chỉ giữ vai trò quan trọng trong bộ máy công quyền mà còn là lực lượng chủ yếu trong sáng tác văn học. Tiêu biểu như Nguyễn Trãi với "Quốc âm thi tập", "Quân trung từ mệnh tập", "Ức Trai thi tập", đặc biệt "Bình Ngô đại cáo" với bút pháp hùng văn hiếm có. Lê Thánh Tông với "Hồng Đức quốc âm thi tập", nhà vua còn đứng ra thành lập "Hội Tao đàn" tạo điều kiện cho những tinh hoa văn học càng nở rộ. Nhiều thi tuyển ra đời như: "Việt âm thi tập" của Phan Phù Tiên và Châu Xa, "Cổ âm thi gia tinh tuyển" của Dương Đức Nhan, "Cổ kim chế từ tập" của Lương Như Hộc...Chủ đề bao trùm văn học thời kỳ này là chất anh hùng ca giữ nước và dựng nước.
 Triều Mạc, rồi Lê Trung Hưng xuất hiện nhiều văn tài. Đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm "cây đại thụ bóng cả che rợp cả thế kỷ 16" với "Thái ất thần kinh" là những tiên tri như sấm truyền, Đặng Trần Côn với "Chinh phụ ngâm" (được Đoàn Thị Điểm dịch ra quốc âm), Nguyễn Gia Thiều với "Cung oán ngâm khúc", Lê Quý Đôn với "Kiến văn tiểu lục", "Vân đài loại tập", Phạm Thái với "Sơ kính tân trang", Nguyễn Du với "Truyện Kiều", rồi Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ..vân..vân.. Đề tài và thể loại đều rất phong phú.
 Giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20.
 Triều Nguyễn Gia Long (từ đời Tự Đức) Pháp xâm lược. Phong trào yêu nước và cách mạng chống thực dân, phong kiến thắng lợi. Tháng 8 năm 1945 Bảo Đại, vua cuối cùng thoái vị. Nhà nước công nông ra đời. Pháp tái xâm lược. Cả dân tộc thực hiện kháng chiến cứu quốc. Năm 1954 ký Hiệp định Giơ-ne-vơ. Pháp rút, Mỹ thay chân Pháp. Hai nhiệm vụ chiến lược song song: xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Năm 1975 thắng lợi vang dội. Đất nước thống nhất cùng tiến theo con đường Xã hội chủ nghĩa.
 Đó là bối cảnh chính của giai đoạn lịch sử giai đoạn này mà văn học đã trực tiếp tham gia và phản ánh, được hình thành theo các dòng chính: Văn học yêu nước, Văn học lãng mạn, Văn học hiện thực và hiện thực phê phán, Văn học cách mạng, Văn học chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Những tác giả và tác phẩm tiêu biểu như Nguyễn Đình Chiểu với "Lục Vân Tiên", "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc"; Nguyễn Quang Bích với "Ngư phong thi tập", rồi Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Trần Bích San, Phạm Văn Nghị, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh... Âm hưởng chủ đạo của dòng Văn học yêu nước là lòng yêu nước thương dân. Khái Hưng với "Nửa chừng xuân", "Hồn bướm mơ tiên"; Nhất Linh với "Đời mưa gió", "Đoạn tuyệt" ; Lưu Trọng Lư với "Khói lam chiều"; Thạch Lam với "Gió đầu mùa"; Trần Tiêu với "Con trâu"; Lan Khai với "Lầm than"; Nguyễn Tuân với "Chùa đàn", "Vang bóng một thời" cùng nhiều nhà văn, nhà thơ khác như: Đoàn Phú Tứ, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân... Hầu hết trong nhóm "Tự lực văn đoàn". Tư tưởng hoài cổ, thoát ly hiện tại biểu hiện lối sống tiểu tư sản, cá nhân, thi vị hoá hoặc mơ tưởng huyễn hoặc, hoặc bế tắc. Đó là đặc trưng của dòng Văn học lãng mạn. Ngô Tất Tố với "Tắt đèn", "Việc làng"; Nguyễn Công Hoan với "Bước đường cùng", "Kép Tư Bền"; Vũ Trọng Phụng với "Giông Tố", "Số đỏ", "Vỡ đê"; Nam Cao với "Sống mòn", "Chí Phèo"; Nguyễn Đình Lạp với "Ngõ hẻm"; Nguyên Hồng với "Bỉ vỏ", "Những ngày thơ ấu"; Lan Khai với "Lầm than"; Tô Hoài với "Giăng thề", "Quê người"; Kim Lân với "Vợ nhặt"; Bùi Hiển với "Nằm vạ"; Mạnh Phú Tư với "Sống nhờ"; Tam Lang với "Tôi kéo xe"; Tú Mỡ, Đồ Phồn với thơ trào phúng...Nội dung bao trùm của dòng Văn học hiện thực và hiện thực phê phán là phản ánh sâu sắc và phê phán nghiêm khắc chế độ thực dân phong kiến thối nát, cảm thông chia sẻ với nỗi thống khổ của lương dân. Dòng Văn học cách mạng với sự xuất hiện của nhiều tác giả, tác phẩm như: Hồ Chí Minh với "Bản án chế độ thực dân Pháp", "Rồng tre", "Nhật ký trong tù"; Tố Hữu với "Từ ấy", "Việt Bắc"; Lê Văn Hiến với "Ngục Kông Tum"; Trường Chinh với "Đề cương văn hoá"; Học Phi với "Một đảng viên", "Chị Hoà" cùng nhiều tên tuổi khác như Đặng Xuân Thiều, Văn Tân, Trần Đình Long, Hải Triều, Như Phong, Bùi Công Trừng, Hồng Chương, Xuân Thuỷ, Lê Tất Đắc...Phát triển rực rỡ và hùng mạnh là Văn học chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Chống Pháp có: Trần Đăng với "Trận Phố Ràng"; Nguyễn Huy Tưởng với "Người ở lại", "Ký sự Cao Lạng", "Sống mãi với Thủ đô"; Nguyễn Đình Thi với "Xung kích", "Bên bờ Sông Lô"; Nguyễn Tuân với "Tuỳ bút kháng chiến"; Nam Cao với "Nhật ký ở rừng", "Chuyện biên giới"; Phùng Quán với "Vượt Côn đảo"; Trần Dần với "Người người lớp lớp"; Nguyễn Văn Bổng với "Con trâu"; Tô Hoài với "Truyện Tây Bắc"; Đoàn Giỏi với "Đất rừng phương Nam"; Nguyên Ngọc với "Đất nước đứng lên"; Hữu Mai với "Cao điểm cuối cùng", "Vùng trời"; Vũ Cao với "Núi đôi"; Chính Hữu với "Đầu súng trăng treo"; Lê Khâm với “Bên kia biên giới"; Quang Dũng với "Bài ca Tây Tiến"... Chống Mỹ có: Nguyễn Đình Thi với "Mặt trận trên cao"; Nguyễn Minh Châu với "Dấu chân người lính"; Nguyễn Trung Thành với "Rừng xà-nu", "Đất Quảng"; Phan Tứ với "Mẫn và tôi"; Anh Đức với "Hòn đất"; Nguyễn Thi với "Người mẹ cầm súng", "Ở xã Trung Nghĩa"; Nguyễn Khải với "Họ sống và chiến đấu", "Chiến sĩ"; Thu Bồn với "Bài ca chim Krao", "Dưới đám mây màu cánh vạc"; Nguyễn Quang Sáng với "Chiếc lược ngà", "Mùa gió chướng"; Nguyễn Trọng Oánh với "Đất trắng", Chu Văn với "Sao đổi ngôi"...vân vân...Xây dựng chủ nghĩa xã hội: Đào Vũ có "Vụ lúa chiêm", "Cái sân gạch"; Chu Văn với "Bão biển"; Hà Minh Tuân với "Vào đời"; Nguyễn Khải với "Chủ tịch huyện", "Tầm nhìn xa"; Nguyễn Tuân với "Sông Đà" Võ Huy Tâm với "Vùng mỏ", Tô Hoài với "Miền Tây"...
 Văn học Việt Nam tôi yêu cái ngọt ngào của Thạch Lam, ngưỡng mộ sự sâu sắc của Nam Cao và quý trọng trí thông minh của Nguyễn Khải.
 Hầu hết các nhà văn thời chống Pháp và chống Mỹ, hoặc thuộc lớp đàn anh, hoặc cùng lứa với tôi. Tôi không chỉ đọc họ mà còn quen biết thân tình với họ, bởi thế không chỉ văn chương mà lòng say mê văn học, tính cách và tâm hồn họ cũng phần nào ảnh hưởng tới tôi.
 Kể một cách tóm tắt chỉ vài ba trang như thế, nhưng đó là cả khoảng thời gian dài mấy chục năm tôi say mê "đọc như điên", bất luận ngày đêm, rảnh rỗi lúc nào là đọc, là ghi chép. Bòn nhặt tiết kiệm được đồng nào là tìm mua sách. Lang thang chúi mắt vào các hiệu sách "săn" những cuốn mình cần là thú vui đặc biệt. Tình yêu văn chương khiến tôi chịu đọc và càng đọc lại càng yêu văn chương. Càng thấy văn chương mênh mông như biển cả và cao đẹp trong sáng như bầu trời. Nhờ đọc mà tôi sơ bộ khái quát được những đường nét, những mảng màu cơ bản của bức tranh toàn cảnh về văn học một số quốc gia, nhất là Trung Quốc và Việt Nam để có cách nhìn rộng hơn, để nhận thức đầy đủ hơn về ý nghĩa, giá trị nghệ thuật và có thêm vốn kiến thức cần thiết nếu muốn theo đuổi nghiệp văn chương.
 Dần dần cứ thế hình thành trong tôi khát vọng không thể cưỡng: viết văn. Mơ ước được làm nhà văn cứ âm ỷ trong tôi. Nhưng định hướng cuộc đời để lập thân, lập nghiệp, lập danh bằng văn chương thì vẫn còn do dự chưa dám.
 Nên làm gì? Câu hỏi đặt ra, tự tìm cách trả lời. Làm chính trị ư? Suy cho cùng thì ai cũng làm chính trị cả. Bởi chính trị hiểu theo nghĩa cơ bản là mục đích. Chẳng hạn đối với quốc gia "Độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ", hoặc "Dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh" là mục đích người Việt Nam chân chính nào cũng đều tán thành và thực hiện. Tuy nhiên mỗi người thực hiện mục đích ấy theo cách riêng: bằng quyền lực hay thông qua nghề nghiệp và công việc cụ thể của mình.
      Bằng quyền lực trong bộ máy đảng trị hay pháp trị ư?
Tôi không dám, không có sở trường. Bởi làm chính trị bằng quyền lực phải là người giỏi lý luận chính trị, có tầm nhìn và có sự hiểu biết thấu triệt mới có khả năng phân tích một cách sâu sắc, đánh giá tình hình chính xác và hoạch định đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn mới mong thắng lợi. Nếu không sẽ thân bại danh liệt, hơn nữa còn đem hậu hại khôn lường cho cộng đồng, xã hội, thậm chí thảm họa cả quốc gia.
 Cùng bối cảnh lịch sử thời Tam Quốc mà có kẻ bại người thắng. Kẻ thứ nhất thất bại là Viên Thuật. Vì sao Thuật bại? Bởi ông ta không có tầm chính trị nên không đề ra được kế sách đúng. Chủ quan, cho rằng mình xuất thân dòng "tứ thế, tam công" được muôn dân quy phục rồi, cảm thấy rất xứng đáng làm vua và ông ta tự xưng vương. Khi chiếm Nam Dương, Viên Thuật tham lam dâm đãng hà hiếp lương dân, trăm họ cực khổ, binh lính đói rét, đất nước điêu tàn lòng người oán hận. Bởi thế khi Lã Bố, rồi tiếp đến Tào Tháo đánh là thua phải bỏ Thanh Châu mà chạy. Kẻ thứ hai thất bại là Viên Thiệu. Vì sao Thiệu bại? Vì ông ta chỉ mong mình có cái danh Hoàng đế nhưng lại không có thực lực để làm Hoàng đế, không đề ra được kế sách đúng. Đã thế lại không biết thu phục lòng người. Dưới quyền có Hứa Du là tướng giỏi mà nghi ngờ, đối xử bất nghĩa khiến Hứa Du quay giáo theo hàng Tào Tháo và cuộc chiến ở Quan Độ đã chôn vùi sự nghiệp của Thiệu.
 Người thắng lợi là Lưu Bị. Vì sao Lưu Bị thắng? Khác Lưu Biểu và Lưu Chương do tầm nhìn hạn hẹp, ý chí nhỏ mọn nên chỉ mong cát cứ cầu an. Khi Tào Tháo đem quân đi đánh Ô Hoàn, Lưu Bị khuyên Lưu Biểu lợi dụng cơ hội Hứa Xương bỏ ngỏ, đánh úp mà chiếm lấy. Lưu Biểu nói: "Tôi tọa cứ một Kinh Châu là đủ lắm rồi, chiếm thêm nơi khác làm gì?". Lưu Bị không thiển cận như vậy. Ông cho rằng Hứa Xương là đất có vị trí chiến lược quan trọng, không chiếm kẻ khác sẽ chiếm mất. Bối cảnh giằng co này nếu thế lực không tăng cường đủ mạnh thì không thể tồn tại được chứ nói gì đến thâu tóm thiên hạ. Bởi thế ông làm theo kế của Khổng Minh là liên kết với Tôn Quyền đánh Tào Tháo, chiếm Kinh Châu thừa thắng chiếm luôn cả Tứ Xuyên. Ông lại rất quan tâm việc thu phục lòng người, rất thành tâm chiêu hiền đãi sĩ. Kế sách của ông là đánh vào lòng trước khi đánh vào thành, đánh bằng tâm trước khi đánh bằng quân. Nhờ "tam cố thảo lư", ba lần khẩn thiết cầu tài mà được Gia Cát Lượng, một bậc đại mưu lược hết lòng phò tá. Với dân chúng ông cũng chân thành lo lắng. Cùng sống với dân, cùng vượt sông với dân, chia ngọt sẻ bùi với dân vì thế mà dân trung thành theo ông. Ông đối xử với mọi người theo quan hệ cá nước. Đến ngay chiếm đất người khác ông cũng luôn nghĩ đến lòng dân. Ông lệnh không được quấy nhiễu dân, với tù binh ông cũng đối đãi tử tế. Vì thế khi vào Thành Đô, quan lại và dân chúng lập bàn thờ đón ông. Được nhân tài, được lòng dân nhờ thế ông đánh đâu thắng đấy và chính quyền Thục Hán không ngừng được củng cố.
 Làm chính trị bằng quyền lực khó thế chứ đâu dễ. Tự xét tôi thấy mình không có tư chất và sở trường làm chính trị quyền lực. Nếu cứ mù quáng lao vào thì kết cục cũng sẽ thảm bại như loại Viên Thuật, Viên Thiệu mà thôi.
 Không. Lập thân, lập nghiệp, lập danh bằng quyền lực chính trị thì dứt khoát tôi không màng.
 Vậy làm gì? Thương nghiệp ư? Thời bao cấp chui được vào cái ngành béo bở ấy đâu dễ, hơn nữa tôi cũng không có sở trường. Nghề nông, nghề công thì vất vả quá. Các ngành kỹ thuật tôi không thích cũng không yêu. Ở đời, kể cả hôn nhân, không thích không yêu mà phải gắn bó chung sống với nhau suốt đời thì quả là cực hình. Chỉ có văn chương là tôi thật lòng yêu, tha thiết yêu, say đắm yêu và ước nguyện chung sống với nó đến khi chết. Vả lại càng ngẫm càng thấy nghiệp văn chương có nhiều cái hay và ý nghĩa cao đẹp lắm. Cụ Cao Bá Quát bảo: "Lập thân tối hạ thị văn chương" ấy là cụ nói vui thế, chứ chính cụ cũng suốt đời theo đuổi nghiệp văn chương đó thôi.
 Nadim Hítmet viết: "Có một lọai người vừa là kép hát vừa là Hoàng đế. Đó là nhà văn". Là kép hát bởi anh ta chẳng có chức tước quyền lực gì. Là Hoàng đế thậm chí hơn cả Hoàng đế bởi tư tưởng của anh ta có thể vượt không gian đến các quốc gia khác, vượt thời gian lưu truyền mãi mãi cho hậu thế. Đúng vậy. Mọi thứ đều sẽ mục nát hết, chỉ văn chương nói riêng, nghệ thuật nói chung là vĩnh hằng. Nhà văn để lại tác phẩm tức là để lại cuộc sống của mình, trái tim, khối óc của mình. Người đời không được gặp lúc còn sống, không nhìn thấy phần mộ khi qua đời nhưng vẫn cảm nhận được sự rung động của trái tim, những suy nghĩ và tư tưởng của nhà văn qua từng trang sách. Văn Thiên Tường triều Nam Tống viết: "Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử. Lưu thủ đang tâm chiếu hãn thanh" (con người tự cổ ai không chết. Lưu lại lòng son với sử xanh). Ở đời từ xưa tới nay lắm người quyền cao chức trọng, phú quý giầu sang nhưng thanh danh không truyền được cho hậu thế. Chức tước và tiền bạc không giúp họ việc ấy được. Nhưng nhà văn làm được. Người bình thường gặp bất hạnh trong đời hoặc tìm đến cái chết, hoặc phải nghiến răng nén chịu nuốt nỗi đau vào tâm, nhưng nhà văn lại biết dồn nỗi đau ấy vào tác phẩm của mình, tìm ra triết lý và gửi gắm triết lý vào mỗi con chữ để giãi bày, trang trải cùng nhân sinh thế sự. Thực ra nhà văn cũng như mọi người khác mà thôi, có hay, có dở, có tinh khiết, có cặn bã, có cao thượng và thấp hèn. Nhưng nhà văn biết chắt lọc những tinh tuý của mình và của đời để tạo ra những viên ngọc là tác phẩm giúp cho chính mình và cho bạn đọc thải bỏ cặn bã thấp hèn, tiếp nhận tinh khiết cao thượng. Còn người khác thì không làm được việc đó. Sự hỗn tạp lẫn lộn tốt xấu khi còn sống đến khi chết đều theo họ xuống mồ.
 Có hai khái niệm chứcdanh. Chức gắn với quyền lực và tiền bạc nên có thể mua được, bán được. Còn danh gắn với nhân cách đạo đức nên không thể mà phải do chính mình làm ra. Nếu đem mua bán thì đấy là bỉ danh chứ không phải trọng danh. Chức khả biến nay còn mai mất. Danh bất biến. Người dẫu đã chết nhưng danh vẫn tồn tại. Có kẻ giầu có đầy quyền lực nhưng không được kính trọng. Trong khi có người rất nghèo khó, cũng chẳng chức quyền nhưng ít ai dám coi thường. Hơn nhau là ở nhân cách, đạo đức. Danh là căn bản, chức là phù hoa. Danh quý hơn chức. Vậy mà vẫn có không ít người nghĩ ngược lại. In danh thiếp họ liệt kê tất cả mọi thứ chức vào đấy cốt phô trương và khi sử dụng quyền lực của những chức ấy họ bỏ qua cả đạo lý, tình nghĩa, sẵn sàng huỷ hoại danh. Rồi đến khi hết chức, danh cũng chẳng còn. Danh không chỉ quý hơn chức, mà còn quý hơn cả thân sống của mình. Ở đời có bốn loại người. Thứ nhất: toàn danhtoàn thân như Phạm Lãi, Tiêu Hà, Trương Lương. Thứ hai: toàn danh nhưng không toàn thân như Hàn Tín, Bành Việt, Nguyễn Trãi. Thứ ba: toàn thân nhưng không toàn danh như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Lý Phật Tử. Thứ tư: không toàn danh cũng chẳng toàn thân như Đổng Trác, Tần Cối, Kiều Công Tiễn. Những kẻ thuộc loại thứ ba, thứ tư thì chỉ là đồ bỏ đi.
 Nhà văn coi nhẹ chức, nhưng rất trọng danh. Danh nhà văn là kết quả tu rèn và lao động đầy vất vả để có tác phẩm. Nhà văn phải chịu trách nhiệm trước bạn đọc, trước xã hội và trước lịch sử về tác phẩm của mình. Bởi thế đó là thực danh chứ không phải hư danh, chính danh chứ không phải tà danh, đích danh chứ không phải mạo danh, trọng danh chứ không phải bỉ danh, vọng danh chứ không phải đoản danh. Phải chăng vì thế mà bố tôi nói: "Văn chương là nghề cao quý". Cao quý thì rõ rồi. Bố tôi còn nói: "Gian truân vất vả lắm mà khó thành đạt". Không những khó thành đạt mà nhiều khi còn mang họa vào thân.
 Tôi tập viết từ rất sớm, viết rất nhiều, gửi đến nhiều nơi, nhưng hai ba năm sau mới được in một cái truyện ngắn trên Tạp chí Văn hoá của tỉnh Nam Định. Đã ý thức được rằng cái nghề vật vã với ý tứ, cân nhắc tỷ mẩn với câu chữ quả không dễ. Lúc đầu cũng thấy nản, nhưng rồi sau đó thỉnh thoảng lại được đăng vài ba truyện ngắn, hoặc bút ký được nhà văn Chu Văn, bấy giờ làm trưởng Ty Văn hoá Nam Định động viên cổ vũ: "Chú có năng khiếu đấy. Cố gắng lên!". Tôi mừng lắm. Bốn từ "Chú có năng khiếu" đối với tôi lúc ấy quan trọng vô cùng. Điều đó có nghĩa trong tôi không chỉ có lòng yêu say văn chương mà còn có cả cái mầm văn chương. Nếu luôn nâng niu giữ gìn chăm sóc cho nó phát triển thì biết đâu...Kiên trì, tôi làm được. Gian truân vất vả, tôi chịu được. Thiên tài như cụ Liep Toxtoi mà còn phải sửa bản thảo "Chiến tranh và hoà bình" đến 105 lần kia mà. "Chú có năng khiếu"năng khiếu là trời ban. Kiên trì là nghị lực của chính mình. Trời ban cho năng khiếu nhưng nếu bản thân không kiên trì thì rồi trời cũng thu về mất, nên phải giữ. Nếu coi những thứ trời ban là thiên tài và những thứ mình có là nhân tài thì dẫu ai có đủ cả hai cũng chưa chắc lập thân, lập nghiệp, lập danh dễ dàng được. Mà rất cần phải có yếu tố may mắn nữa. Không ít người thiên tài có, nhân tài có nhưng không gặp may nên vẫn suốt đời long đong lận đận. Vậy may mắn từ đâu mà có? Từ ân đức của mình, các tiền kiếp của mình, của bố mẹ, ông bà tổ tiên mình để lại. Ở hiền gặp lành, nhân quả mà, đâu phải tự dưng là có. Bởi thế làm việc thiện trước hết là để tích ân đức cho ta, vì ta, sau đó mới vì người. Cổ nhân có câu "của cho là của được" quả chí lý. Làm việc thiện tích ân đức may mắn có thể chưa đến, nhưng tránh, hoặc hạn chế được rủi ro đang đến. Nhiều người có đại nghiệp là nhờ may mắn. Vương An Thạch đời nhà Tống là người thông minh và có chí lớn. Trên đường lên Kinh đô dự thi ông qua một vùng rất trù phú. Ở đấy có gia đình phú ông ra một vế đối kén chồng cho con gái. Vế đối treo bên chiếc đèn kéo quân: "Mã tẩu đăng, đăng tẩu mã. Đăng tức, mã đình bộ". (ngựa chạy theo đèn, đèn chạy theo ngựa. Đèn tắt ngựa dừng). Vế đối khó nhưng rất hay. Chưa đối ngay được Vương An Thạch vội vào kinh dự thi kẻo nhỡ. Khoá ấy ông đỗ "Tam khôi". Khi đích thân "khảo thí" vua Tống cho gọi ông và ra một vế đối. Cờ nước Tống thêu hình con hổ ở giữa, vua lấy đó làm đề: "Hổ phi kỳ, kỳ phi hổ. Kỳ quyển, hổ tàng hình" (hổ bay theo cờ, cờ bay theo hổ. Cờ cuốn hổ dấu mình). Cũng rất hay, mà khó. Đang bí thì bỗng Vương An Thạch chợt nhớ tới vế đối của vị phú ông kén chồng cho con gái, thấy hợp quá liền đọc ngay: "Mã tẩu đăng, đăng tẩu mã. Đăng tức, mã đình bộ". Nghe xong vua khen hay liền nâng từ "Tam khôi" lên "Thám hoa". Trên đường vinh quy Vương An Thạch lại qua cổng vị phú ông nọ, thấy vế đối vẫn còn đó. Ông vào, phú ông tiếp. Ông lấy ngay vế nhà vua ra đối lại: "Hổ phi kỳ, kỳ phi hổ. Kỳ quyển, hổ tàng hình". Nghe xong phú ông khen nức nở và gả con gái cho. Đúng ngày hôn lễ vua ban chiếu phong Vương An Thạch làm Tể tướng phải vào kinh gấp nhậm chức. Ông chỉ vội viết hai chữ "Hỷ". Một dâng bố mẹ vợ và một cho người đưa về dâng bố mẹ đẻ. Đó chính là nguồn gốc treo chữ "song hỷ" vào ngày cưới của người Trung Quốc để cầu mong sự may mắn (song hỷ nhập môn) như Vương An Thạch.
 Mới biết yếu tố may mắn quan trọng nhường nào.
 Tôi chỉ có chút ít năng khiếu, lại yêu văn chương, nguyện kiên trì suốt đời theo văn nghiệp, nhưng có thành công hay không còn phải chờ ở sự may mắn nữa.
 Liệu may mắn có đến?

(Mời các bạn đón đọc phần tiếp theo)
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn