03:23 ICT Thứ năm, 14/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Văn Xuôi

Nghiệp văn chương - Phần tiếp theo và hết (Đắc Trung)

Thứ năm - 23/03/2017 15:05

NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

 
                                               Nhà văn:   ĐẮC TRUNG

 
                                       ( Trích hồi ký)
(Tiếp theo phần 1)
2
 
 Số Tết năm 1963, cũng trên Tạp chí Văn hoá Nam Định in truyện ngắn "Đứa cháu nội" của tôi, được xếp giải khuyến khích, phần thưởng là hai đôi áo may ô “Dệt kim Đông Xuân” và năm thếp giấy học sinh, riêng nhà văn Chu Văn tặng tôi cây bút máy Trường Sơn màu nâu sẫm kèm lời động viên: "Chú có năng khiếu đấy. Cố gắng lên!". Có thể coi đó là "cái mốc" quan trọng trong nghiệp văn chương của tôi. Vì nó khuyến khích và củng cố niềm tin cho cái mộng trở thành nhà văn của tôi nhiều lắm. Nó được coi là "cái mốc" khiến tôi không thể quên còn bởi một lý do khác nữa...
 Tôi có bà cô ruột, chị cả của bố tôi, 24 tuổi goá chồng, được một người con trai là anh Hợt. Bà ở vậy thờ chồng, làm thuê cấy mướn, lam lũ tần tảo nuôi con. Thời phong kiến ngày xưa nhà nghèo lại mẹ goá con côi lo được cho con nên người cô tôi đã phải chịu không biết bao nhiêu khổ sở, đắng cay, tủi nhục. Nhưng dường như tất cả sự sống đều vì con nên bà vượt qua được hết. Anh Hợt lớn lên lấy vợ, sinh được cháu trai kháu khỉnh là thằng Thành. Cảnh nhà đầm ấm vui vẻ. Tưởng cuộc sống được đổi đời từ đây, nào ngờ mới chưa đầy bốn tuổi thằng Thành mồ côi mẹ. Năm sau anh Hợt lấy vợ khác. Bản chất chị cũng là người tốt, chịu thương chịu khó chăm chỉ siêng năng, chỉ phải cái tính chanh chua đanh đá, đối xử với mẹ chồng, con chồng nhiều khi rất quá đáng. Anh Hợt thì nhu nhược sợ vợ. Mâu thuẫn mẹ con cứ mỗi ngày thêm căng thẳng. Cô tôi với cháu Thành phải tách ra ở riêng. Lại sớm tối mò cua bắt ốc, lại nước lọ cơm niêu, lại khốn khổ tủi nhục, chỉ khác ngày xưa nuôi con, bây giờ nuôi cháu. Vì con, vì cháu cô tôi nhẫn nhục nuốt đau khổ trong lòng. Thương cô quá, bố tôi, chú tôi, các cô tôi cùng gom góp làm mấy gian nhà tre mái tranh vách đất trên mảnh vườn của chú, để cháu Thành và cô tôi về ở. Dù rất giận nhưng tôi biết ngoài việc chăm chút yêu quý cháu Thành cô tôi vẫn rất thương anh chị Hợt. Nước mắt chảy xuôi, tấm lòng người mẹ bao giờ cũng mênh mông cao cả lắm. Cháu Thành khôn lớn, học xong lớp bẩy nó xin đi làm công nhân đường sắt mãi tận Lào Cai–Yên Bái. Cô tôi vẫn sống một mình lấy sự đùm bọc của anh em họ hàng làng xóm làm niềm vui và lấy sự trông đợi ở cháu Thành làm niềm an ủi, hy vọng. Tháng trước cháu Thành gửi thư cho bà, rằng thế nào Tết này nó cũng về ăn Tết với bà. Vậy mà nay đã sắp ba mươi tháng chạp rồi vẫn chưa thấy. Ban đêm thao thức mong cháu không ngủ được, bà nghĩ miên man, nhớ lại tất cả những đắng cay cơ cực suốt cuộc đời bà đã phải gánh chịu để nuôi con, vì con, trông mong được nhờ cậy con, nhưng chẳng ngờ phải đứa con bất nghĩa, thế là bao gian nan vất vả của bà trở nên vô ích. Càng nghĩ bà càng tủi, càng đau đớn và cứ thế mà khóc...
 Truyện "Đứa cháu nội" tôi viết gần như kể lại y nguyên cuộc đời cô tôi, tên nhân vật chỉ đặt chệch đi một chút với ý định ca ngợi sự hy sinh cao cả của những người mẹ và phê phán, lên án những đứa con bất hiếu, kêu gọi sự ăn năn hối cải.
 Ở vùng quê xa xôi như làng tôi, có mấy người quan tâm đến văn chương báo chí, truyện in ra tưởng không ai biết, nào ngờ xóm trên có một người làm ở Phòng Văn hoá huyện. Thấy có bài viết về câu chuyện ở làng mình, chuyện mà ai cũng biết, ông ấy đem về năm sáu quyển và chỉ hai ba ngày sau người khắp làng đã kháo nhau ầm ỹ, chuyền cho nhau đọc, rồi đi đâu, chỗ nào cũng nhỏ to bình phẩm. Tất nhiên ai cũng ngậm ngùi thương bà lão trong truyện và chê trách người con bất hiếu. Không lường được sự việc lại diễn ra như thế, tôi lo quá. Chắc chắn anh chị Hợt sẽ không tha cho tôi. Tính anh nóng như lửa, tính chị thì...Thôi, chuyến này chắc sẽ gay go phiền toái lắm đây. Tôi nơm nớp, trong đầu luôn tìm cách đối phó.
 Nhưng sự việc lại diễn ra hoàn toàn khác mà tôi không ngờ tới. Sáng mồng hai Tết vợ chồng anh Hợt từ trên Xóm Núi xuống làng thăm cô tôi, điều ấy thật hiếm và tình cờ tôi cũng đang ở đấy. Cả anh, cả chị đều quỳ xuống ôm lấy cô tôi khóc nức nở xin cô tôi tha tội. Cô tôi cũng khóc, tôi cũng khóc. Anh nhìn tôi qua nước mắt nói: "Anh đọc truyện của chú viết, suốt đêm anh không ngủ, thấy mình là đứa con bất hiếu, có tội với mẹ, thương mẹ và ân hận vô cùng. Anh cám ơn chú". Chị cũng vừa khóc vừa nói: "Anh đưa cho chị đọc, càng nghĩ càng thấy mình sai, mình có lỗi. Từ nay chị sẽ sửa đổi...”. Anh chị mời cô tôi về ở với mình, nhưng bà từ chối, lấy cớ đợi thằng Thành về hỏi ý kiến nó, nhưng tôi biết trong lòng bà không muốn.
 Dù sao đó cũng là kết cục tốt đẹp. Với tôi việc này rất nhiều ý nghĩa. Nó cho tôi nhận thức thêm rằng: thì ra văn chương cũng giúp ích cho đời nhiều lắm và càng củng cố cái chí hướng của mình. Dạy tôi môn văn suốt những năm học cấp ba là thày Văn Tân Sắc mà tôi quí trọng gắn bó như anh trai. Chính anh đã luôn khuyến khích tôi sáng tác và thổi vào tâm hồn tôi niềm say mê văn chương. Có được nguồn động viên, có được thêm niềm tin tôi lại lao vào viết, truyện ngắn, truyện dài, thơ...Chẳng quan tâm có được in hay không, vẫn "viết như điên". Tôi trở thành cộng tác viên thân thiết và thường xuyên sinh hoạt với tổ văn xuôi của Ty Văn hoá Nam Định. Cũng nhờ thế mà tôi mới có dịp được quen biết một số văn nghệ sĩ như các anh Chu Văn, Kim Ngọc Diệu (viết văn), Hồng Vũ (viết kịch), anh Nguyễn Bính, bác Việt Quyên, bác Võng Xuyên (làm thơ)...Trong số quen biết ấy, tôi ngưỡng mộ nhà thơ Nguyễn Bính nhất, bởi anh nổi tiếng từ thời "Tự lực văn đoàn". Tập "Lỡ bước sang ngang" của anh xuất bản năm 1953 tôi rất mê và thuộc gần hết, rồi vô tình dính vào vụ "Nhân văn giai phẩm" khiến cuộc đời anh long đong lận đận. Anh gầy yếu, mặt gẫy, răng hơi phô, nghiện thuốc lào nặng, nói chuyện rủ rỉ, luôn phảng phất nỗi buồn tư lự. Anh Chu Văn ngày ấy đã in mấy đầu sách, nhưng chỉ sau này, từ khi có "Bão biển" mới nổi tiếng.
 Tôi vẫn chịu khó viết, thỉnh thoảng mới được in một bài nhưng không nản. Ở đời khổ luyện mới thành tài. Gương tiền nhân như Kỷ Xương xạ thủ lừng danh thời Trung Hoa cổ đại. Từ nhỏ đã rất mê bắn cung và theo Phi Vệ làm đệ tử. Sư phụ Phi Vệ trước hết bắt Kỷ Xương tập nhìn. Nhìn hàng giờ mà mi không chớp. Nước mắt trào ra, nhãn áp căng phồng vẫn cố nghiến răng chịu đựng. Thời gian dài Kỷ Xương đã có thể nhìn vật bất động mấy canh giờ liền không chớp mắt. Tiếp đến tập nhìn vật di động, cũng mấy canh giờ liền không chớp mắt. Kiên trì suốt hai năm trời đạt đến mức cái kim châm vào mi mắt cũng không chớp. Phi Vệ dạy Kỷ Xương nhìn vật rất nhỏ từ xa mà vẫn rõ. Ba năm khổ luyện thị lực đạt siêu tinh. Phi Vệ bắt một con rận dùng keo gắn vào gốc cây. Kỷ Xương không chỉ nhìn rõ con rận, phân biệt đầu đuôi mà còn dương cung dùng mũi tên cực nhỏ bắn trúng con rận. Sư phụ gật đầu hài lòng, bấy giờ ông mới cho Kỷ Xương đi thi bắn.
 Hoặc thời Đông Tấn, Vương Hiến Chi rất yêu thư pháp, từ nhỏ đã được cha là nhà thư pháp nổi tiếng Vương Hy Chi luyện dạy. Suốt bốn năm người cha chỉ bắt con tập từng nét: ngang, bằng, sổ, móc, khuyên, điểm... rồi mới được viết chữ trình lên cha. Người cha lật đi lật lại ngắm nghía rất lâu, không tỏ thái độ, chỉ cầm bút thêm một chấm dưới chữ "đại" nghĩa là to thành chữ "thái" nghĩa là nhiều, rồi chỉ mười tám vại nước đầy. Vương Hiến Chi hiểu ý cha. Từ đấy bất kể ngày đêm Hiến Chi pha nước mài mực viết. Mấy năm sau cả mười tám vại nước cạn hết và thư pháp của Hiến Chi cũng rất điêu luyện, chữ nào cũng xuất thần toát lên từ mọi đường nét. Ông trở thành thánh thư nhờ khổ luyện như thế.
 Cổ nhân dạy "Cần cù bù thông minh" – tôi nghĩ thông minh mình có hạn thì phải kiên trì chịu khó theo gương Kỷ Xương và Vương Hiến Chi thôi, nên rất cần mẫn say mê viết, dù không đâu in nhưng bản thảo đều được các bậc đàn anh đọc, phân tích chỉ bảo tôi thấy mình tiến bộ rất nhiều.
 Trong thâm tâm tôi nghĩ: đấy chính là may mắn.
 
*
*   *
 
 Tháng 3 năm 1967 anh Trần Tiến Thành và tôi phụ trách Trạm chuyển quân cùng với một tiểu đội toàn các cậu trẻ măng, vui tính. Trạm đặt gần đường giao liên xuyên rừng thuộc địa bàn xã Kỳ Lạc, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Gần ba nghìn quân từ Tân Kỳ, Nghệ An vào Quảng Bình mới qua trạm chúng tôi được hơn một nửa. Đêm đi, ngày nghỉ trong những căn hầm đào vội. Mấy lần bị bom "toạ độ" nhưng rất may không có thương vong. Một buổi chiều giao liên đưa anh Lê Hoài Phong là Thủ trưởng N.39 – P.27 kiêm bí thư đảng uỷ, một người giầu trí tuệ, trọng nhân cách, đọc nhiều, kiến thức rộng, tính tình điềm đạm, sâu sắc mà tôi rất kính trọng. Làm việc nắm tình hình xong, anh bảo: "Đắc Trung bàn giao nhiệm vụ lại cho đồng chí Ninh. Ăn cơm xong về cùng với mình rồi thu xếp ra Hà Nội dự lớp "Bồi dưỡng những người viết văn trẻ"...”. Anh Ninh là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc từ năm 1954 hiện cùng làm việc trong "Phòng Tổ chức nhân sự" với tôi. Đọc thông báo và quyết định anh Hoài Phong đưa tôi được biết "Hội Nhà văn Việt Nam" phối hợp với "Nhà xuất bản Thanh Niên" tổ chức lớp bồi dưỡng này.
 Hai ngày sau tôi rời Quảng Trạch, Quảng Bình trên chiếc xe đạp Vĩnh Cửu, "con chiến mã" trung thành của tôi suốt những năm chiến tranh. Chắn xích, chắn bùn tháo bỏ. Ghi đông đã cắt ngắn, uốn lại để luồn rừng đỡ vướng. Đùi, đĩa, nan hoa, may-ơ, vành...bất kể bộ phận nào mạ trắng đều quét sơn xanh hết để không loé sáng tránh máy bay Mỹ phát hiện. Phía trước, đeo dưới ghi-đông buộc chiếc sắc vải bạt nặng khoảng hơn chục cân chứa đủ thứ: búa, kìm, mỏ-lết, móc lốp, nạo xăm, nhựa vá xăm, bơm, phụ tùng dự trữ thay thế, gạo sấy, thịt hộp, đường sữa...Ba lô cột chặt vào giá đèo hàng phía sau, bi-đông nước và sắc cốt khoác chéo qua ngực, băng cá nhân cài bên dây lưng, nếu bị thương tự xử lý cấp cứu lấy. Những nơi có thể luồn rừng theo lối mòn giao liên được thì đi ban ngày. Máy bay đủ loại OV.10, F.105E, F.4H gầm rú trên trời, mặc nó, không sợ. Nhưng những nơi không luồn rừng được phải theo đường lớn hoặc quốc lộ thì tìm hầm mắc võng ngủ, đêm đi. Ban ngày vắng ngắt chỉ có máy bay địch lồng lộn, tiếng bom rền và tiếng cao xạ nổ. Nhưng ban đêm vui như hội. Từng đoàn ôtô lá ngụy trang phủ kín nối nhau, bộ đội hành quân, công binh, Thanh niên xung phong làm đường. Dưới ánh trăng hoặc ánh đèn pháo sáng của địch, ánh đèn gầm xe tải, tiếng động cơ, tiếng hò hát, cười nói, nô đùa...không khí thật hùng vĩ và sôi nổi. Phạm Tiến Duật tả rất đúng: "Đường ra trận mùa này đẹp lắm". Những nơi nhiều trọng điểm địch đánh phá ác liệt phải đi đường tránh, vòng xa nhưng an toàn hơn. Đoạn qua Phà Ghép, Cầu Vàng, Cầu Hổ, Khoa Trường, Hoàng Mai phải ra tận những xóm chài giáp biển Tĩnh Gia. Tránh Cầu Nghèn phải ngược lên rừng qua đò Châu Tử...
 Gần mười ngày sau tôi mới ra tới địa điểm tập trung. Hà Nội đang thời kỳ sơ tán triệt để. Lớp học đặt trong ngôi chùa cổ làng Tứ Dân, xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, Hưng Yên. Học viên, giảng viên ở nhờ nhà dân. Khai giảng đã cả tuần lễ, mươi ngày mà vẫn có người đến. Họ ở xa quá. Mãi Đông Trường Sơn, Tây Trường Sơn, Đèo Phu La Nhích, Cua Chữ A... Phải qua nhiều vùng trọng điểm ác liệt. May không ai hy sinh hoặc bị thương. Tất cả có 25 học viên. Thời gian bốn tháng. Chương trình rất thoải mái và hữu ích. Chủ yếu mời các nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, sáng tác âm nhạc, điêu khắc và hội họa đã thành danh đến nói chuyện. Từ bản thân họ rút ra những kinh nghiệm: đọc, đi thực tế, quan sát, gợi hỏi, ghi chép, đề tài, chủ đề, ý tưởng hình thành tác phẩm, kết cấu, cốt truyện, hình tượng, nhân vật, chọn lọc chi tiết, sử dụng ngôn ngữ, sửa chữa bản thảo...trong văn, thơ, kịch. Giai điệu, trường độ, cao độ, ca từ...trong âm nhạc. Đường nét, màu sắc, hình khối trong hội họa, điêu khắc. Chỉ bốn tháng thôi nhưng đối với tôi vô cùng ấn tượng và bổ ích. Trước đây đọc và ngưỡng mộ các tác giả chỉ qua tác phẩm của họ, qua chuyện kể hoặc các bài viết về họ, thì nay được tiếp xúc trò chuyện cả tuần lễ với từng người. Đó là các nhà văn, nhà thơ: Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Kim Lân, Nguyên Hồng, Như Phong, Học Phi, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Bùi Huy Phồn... Các nhạc sĩ: Nguyễn Văn Tý, Văn Ký, Hoàng Vân, Đỗ Nhuận...Các họa sĩ: Trần Văn Cẩn, Bùi Xuân Phái, Phan Kế An...Trước đây đọc, ghi chép, quan sát và sáng tác hoàn toàn tuỳ hứng, tự phát chẳng biết cũng chẳng có bài bản lý luận gì hết. Nay vỡ ra rất nhiều điều nhà văn phải biết, phải có. Càng hiểu thêm sáng tác văn học là loại lao động khổ sai đặc biệt vất vả, lao tâm khổ trí. Ai không chịu được thì không nên theo đuổi. Yêu văn chương phải vô cùng say đắm và chung thuỷ, thờ ơ chểnh mảng là nó bỏ mình ngay. Phải đến với văn chương như đến với tôn giáo bằng tất cả sự sùng kính, tất cả niềm tin trong sáng, tinh khiết và sự hy sinh tận tụy. Trong cuộc sống để yêu một người có thể chỉ cần mấy tháng, thậm chí mấy tuần. Nhưng để quên một người có khi cả đời cũng không làm được. Văn chương phải như cái người suốt đời mình không thể quên được ấy. Bốn tháng giúp tôi hiểu một cách cụ thể thế nào là sáng tác văn học nghệ thuật. Mênh mông vô cùng nhưng không choáng ngợp mà càng yêu càng say.
 Bốn tháng ấy cũng là "cái mốc" đặc biệt quan trọng trong nghiệp văn chương của tôi và có thể coi đó cũng là may mắn đến với tôi.
 Giám đốc Nhà xuất bản Thanh Niên ngày ấy là chị Phan Thị Phước, ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đoàn. Nhiệm kỳ này sau anh Nguyễn Lam đến anh Vũ Quang làm Bí thư thứ nhất. Trong Ban Bí thư có các anh Lưu Minh Châu, Nguyễn Tiên Phong, Tạ Quang Chiến, chị Nguyễn Thị Khanh...Hầu hết thuộc lớp cán bộ tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng tám năm 1945, được gần gũi giúp việc Bác Hồ ở Chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp. Nhân cách, đạo đức và năng lực rất tốt. Chị Phước kỳ vọng ở lớp học viên này nhiều lắm. Nhưng do sự khắc nghiệt của nghề nghiệp, hoặc do không may mắn mà những cây bút trẻ ấy sau này toả đi khắp nơi bám cuộc sống song chỉ duy trì việc sáng tác được một thời gian rồi vắng bóng. Cho đến nay chỉ còn lại tôi và Lê Minh Khuê, một tác giả viết truyện ngắn xuất sắc. Có lẽ chúng tôi trở thành nhà văn là nhờ may mắn. Bởi sau khi lớp bồi dưỡng kết thúc tôi được về làm biên tập sách văn học của Nhà xuất bản Thanh Niên còn Lê Minh Khuê về Nhà xuất bản Tác phẩm mới. Coi là may mắn vì làm biên tập xuất bản có nghĩa chúng tôi đã được đặt đúng vào môi trường văn học và sáng tác văn học, lại được sống tại Thủ đô Hà Nội, nơi quy tụ tinh hoa văn hiến của cả nước đã hàng nghìn năm.
 Chị Phan Thị Phước sau này chuyển công tác sang Bộ Ngoại giao, làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền của chính phủ ta ở Tiệp Khắc, rồi ở Mađagatxca cho tới nghỉ hưu. Chị là giám đốc có tâm, có tầm. Hầu hết anh chị em thuộc các thế hệ ở Nhà xuất bản Thanh Niên mà tôi hân hạnh được cùng làm việc đều rất tốt, yêu nghề và có trách nhiệm. Tuy hoàn cảnh, cá tính mỗi người một khác, trong công tác và cuộc sống cũng có lúc va chạm, nhưng với tôi bao trùm lên là tình thân ái đối vơí tất cả, đặc biệt có những người tôi rất quý trọng như các anh Quách Xuân Lăng, Đặng Chí Thành, Chu Thành, Nguyễn Hữu Cung, chị Hà, chị Năm …
 Càng ngày tôi càng nhận ra rằng biên tập sách văn học là nghề rất khó. Cha ông ta ngày xưa coi "văn là để tải đạo", chữ thánh hiền quý hơn báu vật, rất trân trọng. Thấy tờ giấy có chữ rơi dưới đất phải cúi xuống nhặt lên chứ không dám bước qua. Sách kết tụ của tâm linh thần thái. Bởi thế người không sạch, không được đọc, quần áo tóc râu không chỉnh tề, không được đọc, chưa thắp hương để nhập thiền tiếp đạo, chưa được đọc. Người biên tập sách gọi là quan tu thư, hàng tứ phẩm trực thuộc triều đình và được tuyển chọn công phu, đỗ đạt cao, thấp nhất cũng phải thám hoa, bảng nhãn trở lên. Cổ nhân trọng sự thâm thuý. Bạc đầu mới nghĩ được một ý, một tứ, viết cho đúng một chữ để đạt cho đủ mọi nghĩa. Bởi thế người làm tu thư muốn hiểu trọn vẹn cái thần ý, cái thâm ý, cả nông sâu, rộng hẹp, nghĩa đen, nghĩa bóng của một nét chữ, một từ, một câu, dấu ngắt, dấu nối, dấu khuyên cho tới một điển tích, một tác phẩm đâu dễ. Phải thông kim bác cổ lắm. Chẳng hạn trong một bài thơ trữ tình của cụ Tú Xương có câu:
"Ai đi Tam Đảo, Ngũ Hồ
Ai về khóc trúc Thương Ngô một mình"
 Đã có người bình câu này và giải thích rằng "khóc trúc thương ngô" là khóc cây trúc thương cây ngô. Thật ra không phải như vậy. Ý câu thơ của cụ Tú gắn với một điển tích. Điển tích đó là: ngày xưa khi vua Thuấn (Trung Quốc) qua đời để lại người vợ yêu còn rất trẻ. Người vợ thương chồng quá vật vã khóc lóc thảm thiết. Nỗi đau khiến nước mắt của nàng hoà lẫn máu. Những dòng huyết lệ đó rơi xuống, bắn vào những đốt cây trúc trồng trên đất Thương Ngô (giống như cây cam trồng trên đất Bố Hạ ở nước ta) để lại trên đốt trúc biết bao vết lấm chấm và giữ mãi ở đó cho đến ngày nay. Đó là biểu tượng của tình yêu sâu sắc, mãnh liệt và chung thuỷ nhưng giữa chừng đứt gánh.
 Hoặc thi tài Tản Đà danh tiếng vang dội ai không biết. Đặc biệt bài "Thề non nước" cụ gửi gắm biết bao tâm sự da diết và sâu sắc của lòng mình, lần đầu đăng trên tờ Nam Phong. Trong đó có câu:
 "Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày"
 Chừng tháng sau nhà thơ nhận được bức thư của một cụ đồ nho quê huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Cụ đồ viết đã hân hạnh được đọc nhiều thơ của Tản Đà tiên sinh và rất ngưỡng mộ. Vừa qua lại được thưởng thức thi phẩm "Thề non nước" cảm phục ý sâu, lời hay. Nhưng nếu tiên sinh cho phép được sửa, thì cụ xin sửa một từ trong bài thơ ấy, rồi bỏ lửng, không rõ là từ nào. Đọc thư Tản Đà mừng lắm. Biết đây là bậc trí lự uyên thâm có thể kết tình bằng hữu, liền sắm trà ngon đáp tầu hoả đến ga Đồng Văn rồi thuê xe kéo hỏi đường tìm đến tận nhà cụ đồ. Cụ đồ vô cùng cảm kích được nhà thơ đến thăm, rượu ngon, thức nhắm ngon trịnh trọng mời khách. Hai cụ già rất ý hợp tâm đồng, mới gặp lần đầu mà chẳng khác tri âm, tri kỷ. Lựa lúc thuận lợi Tản Đà mới tế nhị ngỏ ý xin cụ đồ chỉ giáo cho biết nên sửa từ nào trong bài "Thề non nước". Cụ đồ đắn đo, cân nhắc rồi nói: "Nếu tiên sinh cho phép, tôi xin được sửa từ tuôn thành khô...Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày". Suy nghĩ một chút Tản Đà vỗ đùi gật gù: "Hay! Rất hay! Suối khô dòng lệ, tức là đã khóc nhiều quá rồi, lâu quá rồi, nước mắt cạn kiệt rồi còn đâu nữa mà tuôn. Hơn thế, cái nỗi nhớ, nỗi buồn, nỗi đau phải nén lại, phải nuốt vào trong tâm, phải nghiến răng chịu đựng mới là nỗi buồn lớn, nỗi đau lớn. Đau cho số phận kiếp người, đau cho non sông đất nước, đau cho vận mệnh quốc gia dân tộc". Tản Đà rất cám ơn cụ đồ Duy Tiên và sửa từ tuôn thành từ khô trong bài "Thề non nước" là vậy.
 Triều nhà Tống (Trung Quốc) có hai người rất nổi tiếng. Đó là nhà thơ Tô Đông Pha và Tể tướng kiêm nhà văn Vương An Thạch. Tô Đông Pha không phục Vương An Thạch về tài thơ, coi Vương An Thạch không bằng mình. Vương An Thạch biết nhưng chỉ im lặng. Một lần Vương An Thạch mời Tô Đông Pha đến tư dinh của mình chơi và ông rất tế nhị cố ý vắng mặt khi Tô Đông Pha bước vào phòng văn. Nhìn trên bàn Tô Đông Pha thấy bản thảo một bài thơ đã làm xong và một bài đang làm dở, tò mò liếc đọc. Bài thứ nhất có câu:
"Minh nguyệt sơn đầu khiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm"
 Ông nhíu mày nghĩ: minh nguyệt là ánh trăng. Sơn là núi. Khiếu là hót. Ánh trăng thì làm sao hót nơi đầu núi được? Ông lắc đầu. Hoàng khuyển là chó vàng. Ngọa là nằm. Hoa tâm là giữa bông hoa. Chó vàng làm sao nằm giữa bông hoa được? Ông lại lắc đầu và càng tỏ ra coi thường tác giả. Tiện bút Tô Đông Pha "biên tập" lại ngay thành:
"Minh nguyệt sơn đầu chiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa âm"
 Có nghĩa ánh trăng chiếu nơi đầu núi. Chó vàng nằm dưới bóng hoa. "Biên tập" xong Tô Đông Pha tỏ ra rất hài lòng, mãn nguyện, đinh ninh rằng qua việc làm này thì Vương An Thạch phải "tâm phục, khẩu phục" mình lắm.
 Bài thơ thứ hai Vương An Thạch tả cảnh mùa đông hoa cúc rụng tơi tả.
 "Tây phong tạc dạ qúa viên lâm
Xuy lạc hoàng hoa mãn địa câm"
(Đêm qua gió thu qua rừng vườn. Thổi rụng hoa cúc vàng khắp mặt đất)
Bực quá, không kìm được, Tô Đông Pha cầm bút theo vần viết tiếp hai câu:
"Thu hoa bất tỷ xuân hoa lạc
Thuyết dữ thi nhân tử tế ngâm"
 (Hoa thu không rụng như hoa xuân. Xin nhắc thi nhân chớ khinh suất lúc ngâm vịnh). Ông cho rằng hoa cúc không bao giờ rụng. Bởi từ lâu ông thấy hoa cúc khi héo thì cánh hoa vẫn bám vào đài hoa. Biết rằng việc làm ấy là xúc phạm Tể tướng có thể phải chịu tội phát vãng. Quả nhiên sau một tháng Tô Đông Pha bị "đầy" lên phương Bắc. Ông nghĩ rằng đó là Vương An Thạch trả thù mình. Còn Vương An Thạch sau khi gửi "trát" đi rồi, ông lại "trát" tiếp cho các quan chức địa phương phải thật chu đáo với Tô Đông Pha tiên sinh như bậc đại khách.
 Đến phương Bắc, Tô Đông Pha được thả sức du ngoạn và được từ quan chí dân tiếp đón nồng nhiệt. Một lần xuống vùng quê nọ, Tô Đông Pha bỗng nghe tiếng chim lạ hót véo von. Nhà thơ hỏi chim gì hót hay vậy? Những người dân trả lời: đó là tiếng hót của chim minh nguyệt. Lần khác Tô Đông Pha thấy một loài sâu lạ nằm cuộn mình giữa bông hoa. Nhà thơ hỏi sâu gì? Người dân bảo: đó là sâu hoàng khuyển. Ông giật mình đập tay vào trán thở dài, nhận thấy mình dốt. Thì ra có lòai chim minh nguyệt và lòai sâu hoàng khuyển. Ông tự sỉ vả mình chỉ vì sự ngu dốt không hiểu hết được ý thơ của Vương An Thạch và do tự phụ mà đã "biên tập" thô bạo làm hỏng mất bài thơ hay của Tể tướng.
 Vào một chiều mùa đông, ngồi trong nhà nhìn ra ngoài trời tuyết trắng xoá bay và dưới vườn những cánh hoa cúc rụng tơi tả. Nhà thơ lại giật mình đập tay vào trán thở dài chua xót nhận ra rằng hoa cúc có rụng. Nghĩ tới thái độ điềm tĩnh và nhân ái độ lượng của Vương An Thạch, lại thấy mình được quan chức địa phương tiếp đón như thượng khách, được du ngoạn khắp vùng thiên nhiên trù phú nhưng cũng rất khắc nghiệt tận phương Bắc xa xôi mà chưa bao giờ đặt chân đến, Tô Đông Pha bỗng nhận ra không phải Tể tướng “đầy” mình, mà chính là ông tạo điều kiện cho mình đi thực tế để có thêm hiểu biết và vốn sống. Trong lòng rất thấm thía sự biết ơn và ân hận, liền viết ngay thư về nhận lỗi với Vương An Thạch.
 Qua câu chuyện về thơ của Tú Xương, về thi sĩ Tản Đà và Tô Đông Pha tôi ý thức sâu sắc được rằng cái bằng tốt nghiệp khoa Ngữ Văn trường đại học Tổng hợp Hà Nội, bằng tốt nghiệp khoa Xuất Bản, khoa Báo Chí trường Đại học Tuyên Giáo cũng chẳng là cái gì. Kiến thức đâu phải ở trường lớp, hay bằng cấp, học vị mà chủ yếu ở cuộc sống. Phải lăn lộn, phải đắm mình, phải hoà nhập vào cuộc sống đầy sôi động, đầy khó khăn gian khổ, nguy hiểm trong chiến đấu và sản xuất thì mới mong trưởng thành được, mới mong có hiểu biết, mới có điều kiện thử thách để nhìn nhận đánh giá đúng và vững vàng, mới mong có vốn sống để sáng tác. Thấm thía điều ấy tôi triệt để tận dụng thời gian và điều kiện để đi thực tế, khi làm biên tập xuất bản vậy mà sau này chuyển sang làm báo cũng thế. Mỗi năm cộng lại tôi thường chỉ có mặt ở Hà Nội vài ba tháng. Những năm chiến tranh chỗ nào ác liệt là đến. Đến với Thanh niên xung phong, bộ binh, công binh, cao xạ, tên lửa, không quân, biệt động thành...Hoà bình lại xông xáo đến các trại giam, các trường giáo dưỡng vị thành niên phạm pháp, các trường phục hồi nhân phẩm, những trung tâm cai nghiện xì ke ma tuý ở Sài Gòn và các tỉnh phía Nam vừa giải phóng, lăn lộn cùng với cán bộ, công nhân xây dựng trên các công trình trọng điểm quốc gia như nhiệt điện Phả Lại, thuỷ điện Hoà Bình...Nơi nào nằm lâu, sống kỹ, đi lại thường xuyên coi đó là mảnh đất sống của mình thì viết truyện dài, tiểu thuyết, nếu không chỉ nên viết truyện ngắn, ký sự, ghi chép thôi. Các bậc đàn anh bảo tôi thế mà tôi cũng thấy đúng như thế.
 
*
*   *
 
 Ngay sau ngày toàn thắng, đất nước thống nhất, tôi đã nghĩ: những niềm vui cuồng nhiệt rồi sẽ lắng xuống, cuộc sống sẽ trở lại. Nhưng sẽ trở lại thế nào, nhất là miền Nam với biết bao sự ngổn ngang, đặc biệt ngổn ngang trong lòng người. Hàng triệu binh lính, sĩ quan ngụy, hàng chục vạn viên chức đã từng theo, từng cộng tác với Mỹ ngụy và nghĩa là cũng bằng ấy số thân nhân, gia đình liên quan. Thái độ, hành động chính trị họ ra sao? Tâm tư họ thế nào? Chiến tranh kéo dài gần nửa thế kỷ với tất cả sự tàn khốc, không chỉ tàn khốc về bom đạn, huỷ diệt chết chóc, thương tật mà hơn thế là sự tàn khốc trong lòng người. Tôi nhớ tới Năm Bì ở Chiến khu Ô Rô. Nhà sáu anh em, Năm Bì thứ tư. Ba theo cách mạng và ba theo giặc làm ác ôn. Một đêm bộ đội từ căn cứ Cà Tang về "đột" ấp Bình Lâm, bị phục kích. Tên ác ôn soi đèn dùng mũi giầy lật mặt người chiến sĩ giải phóng tử thương nằm bên hàng rào kẽm gai. Hắn bàng hoàng nhận ra anh Hai của mình. Đầu năm 1973, sau Hoà uớc Pa-ri, gia đình họ nằm giữa "vùng giáp ranh". Đúng ngày giỗ bố cả năm người con về, ba ác ôn, hai Việt cộng. Cùng thắp hương chắp tay vái bức hình người cha trên ban thờ, rồi cùng ngồi ăn một mâm, nhưng vẻ mặt lạnh tanh, súng lục kè kè bên sườn sẵn sàng rút ra nã đạn vào nhau. Chiến tranh đã xé nát từng gia đình, từng dòng tộc, từng cộng đồng, từng xóm làng, thậm chí xé nát lương tâm từng con người. Bố con, anh em, họ hàng, bè bạn thành kẻ thù của nhau, nợ máu với nhau. Bây giờ sống với nhau ra sao đây? Xã hội Mỹ ngụy dưới ảnh hưởng của chế độ thực dân mới đã phân hoá sâu sắc, hình thành nhiều tầng lớp vô cùng phức tạp nhất là số chịu ảnh hưởng của chiến tranh tâm lý, của nọc độc văn hoá đồi trụy, phản động cùng những nạn nhân mà chiến tranh đã biến họ thành vô gia cư sống vất vưởng tận đáy cùng xã hội. Rồi sẽ hình thành những tổ chức chống phá điên cuồng, những băng đảng xã hội đen hoành hành, những người lang thang cơ nhỡ. Xử lý những vấn đề mâu thuẫn nội bộ xã hội rất nan giải. Không có đường lối đúng đắn và chính sách cụ thể đặc biệt nếu thiếu lòng nhân ái bao dung thì hậu họa sẽ khó lường. Năm 1954, sau khi ta đánh thắng thực dân Pháp, ngày 1 tháng 10 Bác Hồ đã ký Sắc lệnh 218/SL quy định "Không trừng phạt những người đã hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh và cho họ hưởng quyền tự do dân chủ. Cả những người đã bị xử phạt thì nay thả ra và cũng cho hưởng quyền tự do dân chủ". Nhưng làm được đúng những điều ấy đâu có dễ.
 Nhưng thời gian đó tôi đang đi thực tế ở quân chủng Không Quân, nơi tôi vốn có duyên nợ từ khi viết về phi công Trần Hanh trong trận anh bắn hạ một chiếc phản lực F.105E của Mỹ trên bầu trời Hàm Rồng (Thanh Hoá), không may bị một máy bay địch bám đuôi. Bị địch bám đuôi đồng nghĩa với tuyệt vọng. Bởi đối phương có "Tên lửa rắn đuôi kêu" (tên một loaì rắn cực độc) đã cải tiến đến lần thứ chín. Khi phóng, "rắn đuôi kêu" sẽ lao thẳng vào đuôi máy bay của ta, nơi phát ra tia hồng ngoại và kích nổ. Tư lệnh hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương từng tuyên bố: "Đã phóng tên lửa rắn đuôi kêu thì đối phương chỉ kịp cầu Chúa". Phi công của ta đau đầu tìm cách chống lại loại tên lửa này bằng nhiều cuộc hội thảo, trao đổi nhưng chưa có điều kiện thực nghiệm. Trong tình thế vô cùng khó khăn ấy Trần Hanh vẫn bình tĩnh. Tương kế tựu kế, lợi dụng cơ hội anh lập tức thực hiện chiến thuật chống "Tên lửa rắn đuôi kêu" mà anh và đồng đội đã nghĩ ra bằng cách khi cảm thấy địch đạt cự ly "phóng" hữu hiệu, anh tắt động cơ, lật ngửa cho máy bay rơi tự do. Không còn phát ra tia hồng ngoại chắc tên lửa đối phuơng sẽ trượt mục tiêu. Quả nhiên đúng như dự đoán. Động cơ vừa tắt được mấy giây, Trần Hanh thấy một luồng lửa màu xanh vút qua. Anh biết thoát rồi, liền khởi động lại máy trong lòng vô cùng sung sướng. Thế là "Tên lửa rắn đuôi kêu" mà Mỹ rêu rao đe dọa khắp thế giới đã bị không quân Việt Nam tìm được cách vô hiệu. Anh mừng lắm, nhưng do lần đầu chưa có kinh nghiệm, thao tác mạnh quá khiến toàn bộ hệ thống vô tuyến điện bị tê liệt. Thế là Trần Hanh phải bay trong tình trạng vừa mù, vừa điếc, vừa câm. Mù vì không có ra-đa dẫn đường, điếc vì không nghe được ai nói và câm vì không nói được với ai. Bầu trời đang bay đây là vùng nào? Mặt đất bạt ngàn màu xanh dưới cánh bay kia thuộc địa phận nào? Không biết. Đồng đội đâu? Xung quanh có máy bay địch không? Cũng không biết. Trong khi đồng hồ nhiên liệu bật đỏ: hết xăng! Gặp tình huống ấy phi công được phép nhảy dù, dẫu phải hy sinh máy bay. Nhưng Trần Hanh không làm thế, không thể huỷ hoại phi cơ, loại khí tài vô cùng quý của quốc gia. Anh lượn vòng hẹp, hạ dần độ cao. Thấy mênh mông màu xanh của rừng lộ rõ một vạt suối cạn. Trần Hanh quyết định dùng đó làm đường băng hạ cánh. Hết nhiên liệu, máy chết, Trần Hanh lái lượn theo quán tính. Cái việc khó tới mức tưởng không thể làm được ấy, mà anh đã làm được một cách kỳ diệu. Máy bay trượt trên mặt cát sỏi mấy trăm mét, rồi dừng khi vừa đụng một bụi cây phía trước. Sau mấy phút choáng ngất, Trần Hanh tỉnh, anh ra khỏi máy bay và hồi hộp không biết đây là đâu. Khu rừng này thuộc nước ta hay nước bạn? Thuộc miền Bắc hay miền Nam? Thuộc vùng giải phóng hay vùng địch? Anh đi theo suối, đoán chừng nơi nào có nước chắc có dân. Lát sau gặp một bản nhà sàn, có gà lợn quẩn quanh mà không một bóng người. Anh thận trọng bước từng bậc cầu thang và mắt sáng lên vì mừng khi thấy dòng chữ màu trắng trên vách gỗ: "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược"…Nghe tiếng động, anh quay lại thấy ba bốn họng súng và cung nỏ chĩa vào mặt. Trần Hanh liền chỉ vào quốc kỳ Việt Nam trên bộ đồ bay của mình, gật đầu chào và mỉm cười thân thiện với những người bận quần áo dân tộc đang chăm chú nhìn anh. Rồi một tiếng cất lên: "Ồ, Khăm-cơ-lơi của Bác Hồ! Khăm-cơ-lơi của Bác Hồ!". Tất cả hạ vũ khí nhìn anh cười, (sau đó anh mới biết khăm-cơ-lơi tiếng dân tộc là người nhà trời), rồi mọi người quây lấy anh, nói tiếng Kinh với anh, đem mật gấu cho anh xoa những vết bầm, đem xôi, mật ong ép anh ăn. Thì ra đây thuộc đất Nghệ An. Trần Hanh nhờ dân bản chặt cành cây ngụy trang máy bay và nhờ cán bộ địa phương báo tin về tỉnh đội. Tin chưa kịp báo thì mấy cán bộ tỉnh đội đã đến. Họ nhận được điện từ Đài quan sát báo về và theo tọa độ đi tìm. Sau phút ngỡ ngàng tỉnh đội trưởng và Trần Hanh ôm chầm lấy nhau. Thì ra họ là bạn chiến đấu từ kháng chiến chống Pháp, cùng chia lửa trong trận đánh đồn Đông Biên (Hải Hậu - Nam Định). Bao năm rồi nay mới gặp.
 Truyện thật mà như mơ. Viết rất thích.
 Tôi quen anh Trần Hanh từ đấy và sau này càng thân thiết. Lúc đó anh đang là Phó tư lệnh quân chủng nên thực tế ở đây lần này tôi luôn được tạo mọi thuận lợi. Tôi dành nhiều thời gian ở với Nguyễn Thành Trung, sĩ quan ngụy phản chiến ném bom Dinh Độc Lập rồi sau đó chỉ huy "Phi đội Quyết Thắng" dùng máy bay địch công phá phi trường Tân Sơn Nhất. Chúng tôi ở cùng phòng tại Ban Tham mưu Sư đoàn 372 trong Căn cứ không quân Biên Hoà, rồi từ đấy thường bay đi Trà Nóc (Cần Thơ), Tân Sơn Nhất (Sài Gòn) hoặc Đà Nẵng. Tôi và Nguyễn Thành Trung rất hợp nhau bởi cùng yêu văn chương và rất mê lịch sử. Thật ra Nguyễn Thành Trung không phải sĩ quan ngụy, mà là người của ta cài vào hoạt động trong lòng địch. Tên thật của anh là Đinh Thành Trung, quê Châu Thành, Mỹ Tho, bố là Bí thư huyện uỷ, bị địch bắt và sát hại. Năm đó Đinh Thành Trung đang học lớp 12 trên thành phố. Chấp hành sự bố trí của tổ chức, dở đại học năm thứ nhất anh đổi tên là Nguyễn Thành Trung, nộp hồ sơ đăng ký nhập ngũ quân đội ngụy, thi và trúng tuyển phi công. Anh hoạt động đơn tuyến. Đường dây liên lạc duy nhất với cách mạng là anh Thịnh, giáo viên trung học và cũng là anh con người cô ruột của Trung. Tháng 5 năm 1967, đêm cuối cùng trước khi sang Mỹ học lái, Nguyễn Thành Trung được báo đến một cơ sở bí mật trong khu lao động giữa biết bao lần quẹo, hết ngõ, ngách, hẻm vào căn nhà lụp xụp mờ tối. Có hai người không nhìn rõ mặt, giới thiệu và kết nạp anh vào Đảng nhân dân cách mạng. Thủ tục rất ngắn gọn, thời gian không đến mười phút rồi ra ngay để quay lại đơn vị và từ đó anh chiến đấu với tư cách người cộng sản. Ở Mỹ về Nguyễn Thành Trung lái A.37, loại cường kích hiện đại và đeo lon trung uý. Đường dây liên lạc không thay đổi. Nhiệm vụ được giao: ném bom Dinh Độc Lập khi có thời cơ và báo gấp cho cấp trên biết. Hai lần tưởng thực hiện được nhiệm vụ, đã báo cho anh Thịnh, nhưng thời cơ không có, đành chịu. Mãi cho tới ngày 8 tháng 4 năm 1975. Thời điểm này chiến sự diễn biến với tốc độ mãnh liệt mà ưu thế áp đảo thuộc phía cách mạng. Trước đó một ngày (7 – 4) Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện cho các đơn vị ở chiến trường: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!". Mất Tây Nguyên và một số tỉnh miền Trung địch điên cuồng cho không quân ra đánh phá. Sáng hôm ấy phi tuần Nguyễn Thành Trung nhận lệnh bay ra oanh tạc phía bắc Xuân Lộc. Anh là phi công dự bị, nhưng do thiếu tá Lượm không biết vì sao đến muộn, nên Trung được bay thế. Lấy cớ: "Máy bay hỏng chút xíu, Số 3 xin tự sửa, sẽ cất cánh bám theo". Phi tuần trưởng: "Ô-kê!". Anh cố tình nấn ná kéo dài thời gian cốt để Số 1 và Số 2 bay xa rồi mới rú máy bay vút lên cao. Đảo một vòng hẹp trên bầu trời Sài Gòn, xác định mục tiêu Nguyễn Thành Trung bổ nhào trút bom xuống Dinh Độc Lập rồi bay đi hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long mới được quân giải phóng đánh chiếm. Thời cơ đến bất ngờ không kịp báo ra ngoài. Xúc động trong bàn tay đón tiếp của đồng đội, nhưng Nguyễn Thành Trung rất băn khoăn không biết số phận vợ và hai con gái ra sao?
 Ngay chiều hôm ấy, chị Cẩm, vợ anh thấy mấy ôtô nhà binh rầm rầm lao đến đỗ xịch trước cửa đổ một tốp quân cảnh xuống thô bạo bắt cả ba mẹ con tống lên thùng xe rồi phóng đi luôn. Bị nhốt vào trại giam quân đội gần phi trường Tân Sơn Nhất, chị Cẩm bàng hoàng không hiểu vì lý do gì?
 Sáng hôm sau, qua tờ nhật báo tên lính gác đưa cho, chị mới biết hành động của chồng và tại sao mình bị bắt.
 Nén mọi lo lắng trong lòng, Nguyễn Thành Trung tranh thủ từng giờ, từng phút hướng dẫn các phi công của ta gồm: Từ Đễ, Lâm Văn Vượng, Hán Văn Quảng cấp tốc làm chủ loại máy bay A.37 của Mỹ và vận động hai trung uý phi công ngụy mới bị bắt làm tù binh cùng anh phản chiến để "lập công chuộc tội". Họ đồng ý. Đó là Trần On và Trần Ngọc Xanh. "Phi đội Quyết Thắng" được thành lập do Nguyễn Thành Trung chỉ huy. Chiều 28 tháng 4 năm 1975 cùng lúc với các mũi tiến công lớn của ta "Phi đội Quyết Thắng" gồm ba máy bay A.37 cất cánh từ Phan Rang hướng về phía Sài Gòn nhằm khu vực kho vũ khí và bãi đậu máy bay của phi trường Tân Sơn Nhất, xác định mục tiêu, lần lượt bổ nhào cắt bom. Đài chỉ huy của địch hốt hoảng: "Máy bay thuộc đơn vị nào? Máy bay thuộc đơn vị nào?". Trút loạt bom cuối cùng Nguyễn Thành Trung mới quát vào máy bộ đàm: "Máy bay của Americon! Của Americon!" rồi dẫn đầu đội hình rút lui để lại dưới đất những đám cháy dữ dội, những cột khói cao ngất cùng sự hỏang loạn cực độ của quân ngụy.
 Cũng ngay sau trận oanh tạc lịch sử ấy các chiến sĩ biệt động của ta đã cứu được chị Cẩm và hai cháu thoát ra an toàn.
 Những ngày ở không quân tôi đến các sân bay, xuống các trung đoàn, gặp không ít phi công, thợ máy...hỏi han tìm hiểu, ghi chép về các loại máy bay, khí tài, ra-đa, về ăn ở, tập luyện, chiến đấu, với những tình huống nguy hiểm, ly kỳ, về niềm vui, nỗi buồn, về chuyện học hành, yêu đương...Cái gì cũng mới lạ, chuyện gì cũng hấp dẫn, nguyên mẫu nhân vật nào cũng hay như Trần Hanh, Nguyễn Thành Trung...Rất thuận lợi cho việc xây dựng cốt truyện, tạo tình huống bất ngờ và hình thành tính cách nhân vật điển hình. Trong đầu tôi đã phác thảo ý tưởng viết một cái gì đấy dài hơi. Nhưng nghĩ đi, nghĩ lại thấy mình hiểu biết đề tài này còn quá ít, vốn sống chưa nhiều, không nên viết dài, các bậc đàn anh khuyên thế. Hơn nữa đã có hai tác phẩm của hai nhà văn bậc thày viết về không quân, đó là "Mặt trận trên cao" của Nguyễn Đình Thi và "Vùng trời" của Hữu Mai, mình sánh sao nổi. Dẫu có viết được, in ra thì cũng chẳng khác hòn sỏi ném xuống ao bèo. Ở đời phải biết mình, biết người. Chả dại. Thôi, cứ làm mấy ký sự in chung vào tập "Những cánh chim đại bàng" của Nhà xuất bản Thanh Niên. Như thế vừa khỏi băn khoăn về hiệu quả chuyến đi mà cũng không phụ lòng quân chủng. Thời gian, công sức dành cho cái đề tài đang trăn trở về hậu chiến, về hoà hợp dân tộc, về những người đã từng là kẻ thù của nhau, nợ máu với nhau sẽ sống với nhau thế nào?
*
*   *
 
 Để thực hiện ý tưởng ấy tôi lại "lao đi thực tế". Tôi đến với biệt động thành Sài Gòn. Có đơn vị thuộc Bộ Tư lệnh Sài Gòn – Gia Định, có đơn vị do Thành Đoàn thanh niên cách mạng lập ra. Họ giống nhau: đều rất giỏi, nhiều mưu trí, tổ chức những trận đánh như thần thoại. Đội ngũ cũng đa dạng. Hầu hết là bộ đội, không ít là sinh viên, học sinh, công nhân, có những võ sư và môn đệ từ các lò võ nổi tiếng thuộc trường phái Thiếu Lâm hoặc Triệu Tử Long. Lại có cả những giang hồ hảo hán. Họ căm Mỹ, căm bọn lính đánh thuê ngoại bang ăn hiếp bà con cô bác người Việt mình, họ giết để trả thù, để thể hiện chất yêng hùng hiệp sĩ một cách tự phát, rồi họ được giác ngộ và đi theo cách mạng trở thành những chiến sĩ quả cảm. Nhiều nguyên mẫu nhân vật rất hay, rất hấp dẫn như Ba Bê, Tư Chu...Có những mối tình kỳ lạ như Lê Hồng Tư với Nguyễn Thị Châu lãnh án tử hình mới nhận lời kết hôn...Đi với biệt động tôi có điều kiện xâm nhập tận hang cùng ngõ hẻm, ngóc ngách của Sài Gòn. Có điều kiện tìm hiểu các tầng lớp xã hội thời Mỹ ngụy từ cố vấn, chính khách, công chức, tướng lĩnh, sĩ quan, binh lính, cảnh sát, quân cảnh, giới trí thức, học sinh, sinh viên, giới tu hành của các tôn giáo, giới thương gia, tiểu thương cho đến những người lao động nghèo khổ và cả các tổ chức băng nhóm xã hội đen và các ổ bụi đời, hiểu được thế nào là "Luật giang hồ", "Luật rừng" trong giới "anh chị". Đi với biệt động tôi có điều kiện tiếp xúc với một số thương gia tỷ phú ba tầu Chợ Lớn như Lý Long Thân, Lý Đắc, Trần Thành...Những "bố già" maphia ấy bằng tiền bạc và thế lực họ không chỉ khuynh đảo thương trường mà cả chính trường ngụy quyền. Đời tổng thống nào cũng ngao ngán mà bất lực không làm gì được.
 Năm 1975 tôi chắp bút cho đồng chí Lê Giản, nguyên Tổng giám đốc đầu tiên Nha Công an Việt Nam cuốn hồi ký "Những ngày sóng gió”. Suốt mấy năm kỳ công tìm gặp các nhân chứng và thu thập tài liệu, vất vả, nhưng bù lại tôi được quen biết nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt của ngành, trong đó có thiếu tướng Lê Hữu Qua, cục trưởng Cục quản lý trại giam, người có công lớn phá vụ án Ôn Như Hầu từ năm 1946. Được giúp đỡ nên ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng tôi đã tới các trại giam Chí Hoà, Long Thành, Sông Bé và các nơi tập trung quản chế để tiếp xúc với những tướng tá, quan cức cao cấp của chính quyền ngụy, với những phạm nhân trọng án hình sự vốn là các trùm du đãng khét tiếng trong các băng đảng xã hội đen. Tôi ở khá lâu trong Trường phổ thông công nông nghiệp Xuân An, nơi tập trung giáo dưỡng vị thành niên phạm pháp vốn là các đầu gấu trong những ổ bụi đời. Tôi đến Trường phục hồi nhân phẩm Thủ Đức, nơi khám chữa bệnh, giáo dục tạo việc làm cho những phụ nữ vốn trước đây hành nghề mại dâm. Tôi đến Trại mồ côi Gò Vấp, đến Trung tâm nuôi dưỡng người già, tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa Thị Nghè, đến Trung tâm cai nghiền xì ke ma tuý Pha-ti-ma Bình Triệu...Ở đây tôi gặp mấy nhân vật đã để lại những ấn tượng khó quên, nhất là Phi Hùng và Đức "Rây-mông"...
 Trước khi tôi đi Sài Gòn, các đồng chí ở Cục quản lý trại giam gợi ý: "Vào đó anh cố tìm gặp Đức "Rây-mông". Nhân vật ly kỳ lắm đấy". Đức "Rây-mông" là tướng cướp khét tiếng thời Mỹ ngụy, nhắc đến tên không chỉ giới giang hồ mà cảnh sát cũng ngán. Tôi đã bỏ khá nhiều thời gian và công sức mà vẫn chưa tìm ra. Hồ sơ lưu trữ không có. Đọc những tờ báo trước đây khá thông thạo về xã hội đen cũng chỉ nhặt được mấy mẩu tin vụn vặt về nhân vật này và băng nhóm của anh ta. Nghe nói các báo sợ. Đụng vào là phóng viên thậm chí cả toà soạn ăn đòn thù liền. Dân "anh chị" hiện đang trong tù hoặc đã "rửa dao gác kiếm" rất kính nể, nhưng đều nói: từ sau giải phóng "đại ca" mất tiêu luôn. Nghe tin ổng đã qua Pháp với vợ con.
 Một hôm rất tình cờ ở Sở Thương binh - Xã hội thành phố tôi nghe có người nhắc đến tên Đức "Rây-mông", rồi qua đó tôi được biết Đức đang cai nghiện tự nguyện ở Trung tâm Pha-ti-ma Bình Triệu. Thế là tôi phóng đến. Trung tâm Pha-ti-ma Bình Triệu vốn là cơ sở từ thiện thuộc tu viện dòng Thánh Phao-lô đạo Thiên Chúa. Khuôn viên rộng với những dãy nhà kiến trúc kiểu Pháp, lối đi lát gạch luồn dưới tán lá rợp mát của nhiều loại cây ăn trái sum xuê: xoài, măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, mít tố nữ, vú sữa...Học viên khoảng gần hai nghìn gồm đủ mọi tầng lớp xã hội là dân nghiện ma tuý từ các phường, quận chuyển đến. Ngoài ra còn một số đến xin cai nghiện tự nguyện bằng kinh phí tự nguyện đóng góp. Đức "Rây-mông" thuộc số đó, nhưng có việc riêng về Sài Gòn hai ngày nữa mới trở lại. Chưa gặp Đức, nhưng ngay tối hôm đó tôi làm quen với người ở chung phòng với Đức, một nhân vật cũng rất thú vị. Đó là nhà báo Thế Bình, phóng viên tự do, chuyên gia bình luận chính trị, thời sự quốc tế và trong nước. Có lẽ anh lấy bút danh Thế Bình vì vậy, chứ tên thật là Phi Hùng, tuổi ngoài bốn mươi, lịch lãm, bộ tóc dài và hàng ria được chăm sóc, tỉa tót hơi cầu kỳ, miệng lúc nào cũng ngậm píp thả khói thuốc qua mũi. Bố là giáo sư dạy Đại học khoa học Sài Gòn, mẹ là thông dịch viên làm việc trong văn phòng Đại sứ quán Hoa Kỳ. Tốt nghiệp Đại học xã hội Vạn Hạnh, Phi Hùng làm báo nhưng không biên chế chính thức ở toà soạn nào. Giỏi ngoại ngữ, đọc nhiều, hiểu biết rộng, đã đi nhiều nước, giao du với những nhân vật quan trọng trong giới ngoại giao, quân sự, an ninh, thương gia và thông tấn. Quen thân với phóng viên các hãng: CBS, UPI, REUTER, NBS, VIES NEWS, AP, ABC NEWS...Thế Bình là nhà báo đẳng cấp cao. Anh không phải vất vả đi săn tin như những phóng viên khác mà thường các chính khách, tướng lĩnh và đồng nghiệp mang tin đến nhờ phân tích. Cách làm việc của anh cũng rất tài tử. Chỉ đọc và viết buổi sáng, chiều tiếp khách, nhảy đầm, chơi ten-nít, đến câu lạc bộ...Phòng làm việc rộng kê chiếc bàn bầu dục, cô thư ký xinh đẹp ngồi sẵn bên máy chữ. Sớm, ngủ dậy, tắm, điểm tâm xong, miệng ngậm píp rít từng hơi thuốc anh thong thả bước từ đầu bàn này đến đầu bàn kia đọc từng câu và tiếng con chữ mổ vào giấy tanh tách. Xong, thư ký chỉnh ngôn ngữ cho chuẩn, anh đọc lại rồi gửi đi. Thế Bình coi mình là nhà báo trung lập không thuộc phe cánh nào vì thế anh thích hành nghề tự do. Viết ít, nhưng mỗi khi bài của anh xuất hiện thường xôn xao dư luận, nhất là trong giới chính khách. Mấy tháng trước do hôn nhân đổ bể, lại ngao ngán về thế sự, anh giải sầu bằng vài lần ghé tiệm hút, cho khuây khoả thôi, mà rồi nghiện lúc nào không biết. Không thể chết hèn vì á phiện, anh đến đây xin cai nghiện tự nguyện và được bố trí chung phòng với Đức. Đều là bạn tình cờ gặp, nhưng chúng tôi trao đổi với nhau rất thoải mái. Bàn về thế sự, Phi Hùng cho rằng cộng sản thắng là tất nhiên bởi họ có cụ Hồ thuộc bậc thánh nhân, biết quy tụ và phát huy sức mạnh toàn dân tộc không chỉ ngoài Bắc mà cả trong Nam giống như các bậc minh quân thời Lý, Trần. Lại có Võ Nguyên Giáp thuộc hàng danh tướng chẳng khác Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo. Nhưng việc tái thiết quốc gia không đơn giản đâu. Bởi cộng sản thiếu các chuyên gia kinh tế giỏi. Xem ra đó là những nhận định khách quan. Chúng tôi trao đổi về triết học, về Jăng-giắc Rút-xô và Môngtecxkiơ về học thuyết Phơ-rớt. Thế Bình có nhiều phân tích sắc sảo. Cũng qua anh tôi biết được nhiều về chế độ thời Mỹ ngụy, về các chính khách và tướng lĩnh, về các phe phái, về tệ nạn xã hội, về cái Trung tâm Pha-ti-ma Bình Triệu này về học viên ở đây và cả về Đức "Rây-mông" nữa.
 Nhà văn đi thực tế mà gặp được những nhân vật như thế thì đối với tôi đúng là may mắn.
 Hai ngày sau Đức "Rây-mông" từ Sài Gòn lên. Khác hẳn những gì tôi hình dung về anh. Không to cao vạm vỡ, không mặc áo phanh ngực, không đeo dây xích bạc ở cổ, không xăm hình thù kỳ quái trên người, không để tóc dài cũng không gọt trọc đầu hoặc để ria mép, không cốt cách ngang tàng kiểu giang hồ hảo hán. Tuổi khoảng ngoài bốn mươi, nhỏ con nhưng bắp thịt săn chắc, da ngăm đen, đầu húi cao, tóc đen cứng hơi xoăn tự nhiên rất giống người gốc Căm-pốt, bận quần bò, áo phông, trầm tính cương nghị, nhưng dễ gần. Hôm đầu còn dè dặt, những ngày sau cởi mở, chúng tôi thường vừa đi dạo vừa trò chuyện hoặc ngồi bên nhau trên ghế đá dưới tán cây xoài trĩu quả. Ghép nối những chuyện anh kể và nghe được từ người khác có thể tóm lược về Đức "Rây-mông" như sau...
 Quê Trà Vinh, mười tuổi bỏ nhà đi giang hồ tìm võ sư theo học, hai mươi tuổi mở võ đường riêng, môn sinh đông, tiếng tăm đã lừng lẫy trong giới võ hiệp, đem lòng thương cô gái miệt vườn Lái Thiêu. Một lần lên Sài Gòn cô gái bị tên Mỹ tên là Rây-mông làm nhục. Đức tìm được hắn. Giết. Cắt đầu tên Rây-mông cho đệ tử lái xe Vecxpa tốc độ trăm cây số giờ giữa đô thành Sài Gòn, Đức ngồi sau xách thủ cấp tên Mỹ. Bởi thế dân "anh chị" mới ghép tên thằng Mỹ Rây-mông vô tên Đức để tỏ lòng ngưỡng mộ. Bị truy nã, mai danh ẩn tích một thời rồi lập băng cướp, không giết người, chỉ lấy của bọn giầu chia cho người nghèo, tài trợ các tổ chức từ thiện, cô nhi viện hoặc trung tâm nuôi dưỡng người già cô đơn không nơi nương tựa và nạn nhân chiến tranh. Thanh thế lên như diều, giang hồ hiệp khách tìm đến xin theo ngày càng đông, lấy vùng Thủ Đức làm địa bàn làm ăn. Nhưng rồi tên Ngạn "lỳ", một sĩ quan lính dù lập băng tranh giành ảnh hưởng. Chúng hầu hết là quân nhân và cảnh sát. Ỷ thế cậy quyền lại vũ trang đầy người chúng lộng hành ăn hiếp quá đáng. Tiền bảo kê (đâu chỉ bằng tiền, bằng vàng nữa chớ) mà các chủ tiệm nhảy, tiệm nhậu, sòng bạc, mại dâm...dâng nạp chúng hớt tay trên hết trọi. "Luật giang hồ" một khu rừng không thể hai chúa sơn lâm.Thủ lĩnh phải "đụng" nhau. Được - giữ đất. Thua - thì xin nhận kẻ thắng làm đại ca sáp nhập vô băng đó hoặc cùng đàn em kiếm nơi khác làm ăn. Ngạn "lỳ" và Đức "Rây-mông" hẹn gặp nhau ở sân nhà thờ Phước An vào 12 giờ trưa ngày chủ nhật có sự chứng kiến của các đệ tử. Ngạn "lỳ" chủ quan còn báo cho các bồ bịch của hắn và thủ lĩnh mấy băng đàn em đến "coi Ngạn "lỳ" hạ Đức "Rây-mông" thế nào". Chủ quan là phải, bởi nhà thờ Phước An là sào huyệt của hắn. Hắn đâu có biết nhận lời gặp tại đó là mưu sâu của Đức "Rây-mông" cốt cho Ngạn "lỳ" mất cảnh giác để chơi đòn bất ngờ. Quả nhiên chỉ vài đường dao xuất thần Đức "Rây-mông" đã hạ gục Ngạn "lỳ" ngay từ phút đầu tiên, máu tuôn xối xả, nhưng không chết. Đó là ý của Đức "Rây-mông", hạ uy thế của Ngạn "lỳ" thôi. Vậy mà cảnh sát làm dữ quá, Đức "Rây-mông" phải đưa đàn em đến Quận Sáu-Chợ Lớn, thánh địa của những đại phú người Tầu. Ở đó hiện có một băng toàn dân Hoa kiều do Lý A Đẩu làm thủ lĩnh. Tưởng lại phải đụng độ, nhưng không, oai danh Đức "Rây-mông" lớn quá, Lý A Đẩu dẫn đàn em đến quỳ phục xin được làm đệ tử. Đức "Rây-mông": Ô-kê! Xử sự rất quân tử, không đụng tới quyền bảo kê và các mối làm ăn của chúng, chỉ yêu cầu Lý A Đẩu cung cấp thông tin trong giới ba tầu, việc này chỉ dân người Hoa với nhau mới làm được. Chẳng hạn giới thiệu vài ba nhân viên trong nhà băng của Trần Thành hoặc Lý Long Thân để Đức "Rây-mông" nhận làm đệ tử. Đức "rây-mông" gửi tiền vô đó lấy tài khoản, cho đàn em đứng tên. Mà đàn em là thương gia, bác sĩ, nhà giáo đàng hoàng. Mỗi khi có cha tỷ phú nào đó tới lãnh tiền cỡ chừng vài ba triệu trở lên nhân viên nhà băng cấp cho ổng cái tích-kê hẹn tám giờ ngày mai tới. Đêm đó nhân viên này gọi cho người của Đức "Rây-mông" biết. Hôm sau, trước giờ người của Đức đã tới, diện ngất, com-lê cà vạt, kính trắng cặp da sang trọng như đại phú ngồi sa-lon phòng đợi vờ đọc báo. Khi thấy nhân viên nhà băng đánh rớt chùm chìa khoá, hoặc bỏ kính ra lau, đó là ám hiệu báo cho biết khách hàng đối diện là "con mồi". Khi "con mồi" xách cặp bạc ra, người của Đức "Rây-mông" bám liền, ép sát, họng súng dí vô sườn: "Tụi tui là người của Đức "Rây-mông", quý ông muốn giữ mạng sống thì đưa cặp bạc đây!". Rồi lên xe phóng mất tiêu. Nạn nhân chỉ biết há hốc mồm nhìn theo. Không dám la. Bởi người của Đức "Rây-mông" rải khắp, giả thương gia, quân cảnh, lái taxi...Mà dẫu có la cũng chẳng ích chi, bởi cảnh sát gắn với xã hội đen một băng, chúng thổi còi phóng xe rầm rầm đuổi bắt, nhưng thực ra là để che chở bảo vệ, bạc hốt được chia nhau. Hoặc Lý A Đẩu báo cho biết mấy giờ ngày mốt xe tải mang biển số...xuất phát từ Kiên Giang chở gạo đi Vũng Tầu, gầm xe có chứa ma tuý. Lập tức người của Đức "Rây-mông" bám sát giả cảnh sát chốt chặn. Chỉ lấy bịch ma tuý, hẹn thời gian và địa điểm đem tiền hoặc vàng đến chuộc. Tuy nhiên nguồn thu chính của băng Đức "Rây-mông" không phải do cướp mà từ nhận bảo kê hoặc vận chuyển hàng quốc cấm do các đại phú ba tầu Chợ Lớn cấu kết với bọn tướng tá ngụy thực hiện. Đức "Rây-mông" lập công ty, để rửa tiền là chính chứ không nhằm kinh doanh. Anh mua biệt thự, sắm xe hơi, mướn người hầu. Tư chất chững chạc, bang giao rộng nhưng cẩn trọng nên ngoài bọn đàn em và những người liên quan trong làm ăn chẳng mấy ai biết anh là tướng cướp. Bỗng một hôm báo chí đưa tin: Đức "Rây-mông" vô tù, kỳ lạ hơn ổng tự nạp mình cho cảnh sát. Nhiều người không tin. Nhưng đó là thiệt. Chuyện thế này: một đàn em của Đức "Rây-mông" là Đại "Ca Thai", từng thủ lĩnh băng du đãng "Rồng Xanh" làm mưa làm gió vùng rạp hát Ca Thai, bị cảnh sát bắt, lãnh án tù ba năm. Mãn hạn được tha Đại "Ca Thai" tới quỳ mọp cầu xin và được Đức "Rây-mông" dung nạp. Vài tháng sau hắn liều lĩnh làm vụ cướp tiệm vàng Chấn Hưng trên đường Tự Do và lại bị bắt vô khám Chí Hoà.
 Một đêm Đức "Rây-mông" cho đàn em bí mật bắt cóc tên quận trưởng cảnh sát khi hắn lén lút đến nhà "bồ nhí", nhốt lại làm con tin rồi đến thẳng Nha Cảnh sát đô thành, xưng danh, đòi gặp chỉ huy thương lượng: Đức "Rây-mông" sẵn sàng vô tù và thả viên quận trưởng đang bị bắt với điều kiện phải trả tự do cho Đại "Ca Thai". Nếu không, con tin sẽ bị giết. Điều kiện được chấp nhận. Hành động sả thân cứu đàn em khiến giới giang hồ hảo hán vô cùng ngưỡng mộ Đức "Rây-mông". Một tờ báo viết: "Đức "Rây-mông" vào tù như thiên tử vào cung". Có phóng đại chút xíu, nhưng không sai: Đức "Rây-mông" ở phòng riêng, đủ tiện nghi, điều hoà không khí, ti-vi, tủ lạnh, rượu ngoại, đồ ăn ngon, muốn gì đàn em đáp ứng, thông tin đàn em thường xuyên cập nhật đầy đủ, trong tù mà vẫn điều hành mọi việc bên ngoài. Tiền, vàng đã đút lót từ chúa ngục đến cai tù, muốn gì chẳng được. Còn ra lúc nào các đại phú ba tầu Chợ Lớn và nhiều tướng lĩnh sẽ lo. Họ không muốn Đức "Rây-mông" trong đó. Những vụ áp phe lớn không thể thiếu anh. Đức làm phách chưa muốn ra cốt nâng cao vị thế. Điều rất thú vị là anh quyết định cưới vợ trong khi đang bị tù. Tiểu thư em gái một ngài trung tướng ngụy du học và tốt nghiệp tiến sĩ luật tại Pa-ri đem lòng yêu, yêu say đắm Đức "Rây-mông". Cô vốn mê tiểu thuyết võ hiệp và Đức "Rây-mông" là hình tượng người hùng đầy chất giang hồ nghĩa sĩ trong dòng văn học ấy. Vụ án không có điều tra, cũng chẳng có xét xử và Đức "Rây-mông" ra tù "như thiên tử rời cung" trong sự nghênh đón của đàn em. Cuộc hôn nhân tốt đẹp, hai năm sau họ sinh bé trai.
 Cuộc chiến diễn biến khôn lường.
 Tháng 4 năm 1975, sau ngày phi công phản chiến Nguyễn Thành Trung ném bom Dinh Độc Lập cả Sài Gòn náo loạn. Khi đó Đức "Rây-mông" đang kẹt trên cao nguyên trung phần bởi một phi vụ ma tuý, hơn hai tuần sau may mắn lắm mới thoát chết về được đến Sài Gòn. Nhà cửa hoang tàn trống trơn. Một đàn em nói không biết tin gì về anh, vợ anh hốt hoảng đáp máy bay cùng thằng nhỏ đi Pháp. Thế cuộc đảo ngược, hết thời làm ăn, nhớ vợ con Đức "Rây-mông" thấy cô đơn tột cùng. Anh giải sầu bằng á phiện, rồi nghiện. Từ Pháp vợ gửi giấy bảo lãnh về thúc hối anh sang. Không thể đem theo sự sa ngã thấp hèn này, Đức "Rây-mông" tìm đến Trung tâm Pha-ti-ma Bình Triệu cai nghiện và ở chung phòng với nhà báo Thế Bình.
 Tại khám Chí Hoà tôi gặp Võ Đằng Giang, cũng một "dân anh chị" từng khét tiếng trong giới du đãng, đã một thời là đệ tử của Đức "Rây-mông". Giang to cao, cốt cách hơi ngang tàng, đẹp một cách dữ dội. Hắn kể: "Từ hồi tiểu học tôi đã rất mê âm nhạc và dành nhiều thời gian cho việc tập đàn. Ba tôi là công chức giữ chân thư ký trong Toà hình sự đô thành, là người nghiêm khắc đến tàn nhẫn. Ổng la tôi, đánh đập tôi vì mỗi ngày tôi học một sa sút và bê trễ. Năm đệ ngũ tôi thi tú tài phần một bị rớt. Hồi đó tôi đã mười bảy, đến tuổi quân dịch. Tôi trốn không thi hành lệnh gọi nhập ngũ. Là một công chức trung thành mù quáng, ba tôi rất phẫn nộ. Ổng đuổi tôi khỏi nhà. Tôi chơi nhạc khá nên bạn bè giúp đỡ xin được làm nhạc công cho vũ trường Mar-xim, một vũ trường nổi tiếng trên đường Tự Do. Sợ bị truy nã, tôi bỏ vũ trường Mar-xim đi Nha Trang. Đến đây tôi cũng xin làm nhạc công cho vũ trường. Dạo đó ở Nha Trang có băng du đãng do Sơn "trắng" làm thủ lãnh hoành hành. Bọn này là quân nhân ỷ có vũ khí chúng tác quái quá trời. Thấy tôi, một kẻ lạ mặt xuất hiện, nó gọi ra hỏi từ đâu tới. Tôi trình bày hoàn cảnh của mình và xin chúng nó cho được làm ăn yên ổn kiếm sống. Bọn nó chấp nhận nhưng tôi phải bỏ tiền ra bao mỗi khi tụi nó đến đây. Tôi buộc phải chịu. Cũng không kẹt lắm bởi khi đó tôi làm bội tiền. Cũng tại đây tôi cặp bồ với Yến Thu, một ca sĩ mà hồi ở Sài Gòn đã từng cặp với Đức "Rây-mông". Bọn Sơn "trắng" mỗi khi tới thường ép tôi hút thuốc. Trong thuốc có bạch phiến. Lúc đầu hút thấy nóng, rồi quen và tôi nghiền lúc nào không biết. Khi đã nghiền rồi bọn chúng bắt tôi phải bỏ tiền bao chúng hút. Tôi không đủ tiền bao, cãi nhau, rồi đánh lộn. Trong cuộc ẩu đả này tôi bị đau phải tháo chạy. Suốt mấy ngày tôi sống lẩn lút sợ chúng giết. Yến Thu rất lo cho tôi. Không thể ở Nha Trang được, tôi bỏ về Đà Lạt. Bấy giờ gia đình tôi cũng ở Đà Lạt, nhưng tôi không về nhà. Trốn khỏi Nha Trang tôi chỉ có hai bàn tay trắng. Yến Thu vì yêu mà cũng đi Đà Lạt theo tôi. Tôi và Thu lại xin vào làm trong giàn nhạc của vũ trường Duy Tân. Tôi nghiền ngày một nặng. Có đồng nào mua thuốc hết. Tiền lương của Yến Thu tôi cũng lấy nhẵn. Mặc dầu yêu tôi nhưng không thể chịu nổi, Yến Thu xin về Sài Gòn rồi không trở lại Đà Lạt nữa.
 Năm 1971 tôi bị bắt quân dịch. Người ta tống tôi ra Quy Nhơn. Tôi vẫn nghiền nặng. Nhờ móc nối với ông đại uý chỉ huy, ổng cho tôi tự do đi làm nhạc công ở vũ trường, mặc dầu vẫn có tên trong danh sách quân số đơn vị, tất nhiên tiền kiếm được tôi phải chia cho ổng, phải bao nhậu, bao gái cho không chỉ ổng mà cả mấy vị chỉ huy khác nữa. Sau vì nghiền nặng quá không đủ tiền xài, tôi cãi lộn với họ và lập tức tôi bị tống đi đơn vị chiến đấu. Sợ ra trận chết uổng, tôi trốn và lại về Đà Lạt sống lén lút làm nhạc công. Tôi gặp một vũ nữ tên là Nga. Nga vốn là Việt kiều từ Campot mới hồi hương, có con với một tên tướng nào đó của Xi-ha-núc. Nga cặp bồ với tôi, thuê nhà ở. Gia đình tôi có biết nhưng không thèm hỏi đến, coi như giọt máu rơi, nhất là ba tôi. Ổng căm tôi lắm. Nghiền nặng quá, tiền làm được bao nhiêu cũng không đủ hút. Thấy bọn Sơn "trắng" đi ăn cướp nhẹ ơ, tiền thu bội. Hơn nữa thời đó loại phim cao bồi Mỹ tràn ngập. Cảnh đấu súng, phóng mô-tô, phi dao găm hấp dẫn quá trời. Phần ảnh hưởng của phim, phần cần tiền xài tôi tính chuyện đi cướp. Tôi tìm cách thân với một ông cảnh sát. Ổng này mê súng và dao hơn mê gái. Trong phòng của ổng có đủ loại súng và dao. Tôi bỏ tiền ra bao để ổng huấn luyện tôi cách bắn súng, phi dao. Một lần đến chơi tôi đã lấy cắp của ổng một cây Ru-lô. Thiếu tiền mua thuốc tôi nghĩ ngay tới việc đi cướp. Tôi thích đi cướp chứ không thích ăn cắp. Đi cướp được nhiều tiền hơn và anh hùng hơn. Tuần lễ ấy ở vũ trường Duy Tân xuất hiện một tốp khách du lịch. Họ có năm người, mặc rất sang, tiêu tiền như giấy lộn. Bao gái, uống rượu hảo hạng. Ngay ban nhạc chúng tôi chơi hay họ cũng thả tiền thưởng cả xấp. Nghĩa là mấy cha này rất giầu. Năm đó Mỹ đã vào miền Nam đông lắm. Tôi gần một số thằng Mỹ, cùng tập phóng mô-tô tốc độ lớn. Tôi mua một chiếc 150 phân khối. Tối đó, sau khi mấy vị khách giầu bự từ tiệm ra ô-tô về, tôi phóng xe bám theo liền. Thấy họ vào một vi-la bên sườn đồi. Chiều hôm sau tôi đến quán cà phê gần đó vờ hỏi thuê phòng. Chủ quán chỉ vi-la ấy vẫn cho mướn phòng và còn cho biết thêm vi-la chỉ có một bà chủ đã già, một cô giúp việc và mấy vị khách đang thuê. Tôi quyết định sẽ cướp nhà này. Tôi thân với một thằng bé chừng mười lăm tuổi. Nó không có nghề ngỗng gì chỉ lang thang móc túi. Nó rất quý tôi. Tối đó, độ tám giờ, khi mấy vị khách sộp đang cặp kè với mấy cô vũ nữ và tôi vừa đàn hát xong mấy bài, liền xin phép nhạc trưởng cho nghỉ đi uống nước. Phía hậu trường đèn xanh rất mờ, tôi vội mở hộp đàn lấy cây súng ngắn, mấy trái bóng bàn và một cuộn băng dính của Mỹ rất tốt bề rộng tới mười xăng-ty-mét cho vào một cái túi con bí mật luồn ra phía sau. Tại đó thằng nhỏ đã ngồi sẵn trên xe chờ. Tôi đèo nó đến thẳng vi-la nọ, để nó canh chừng ở ngoài, tôi vào gõ cửa. Một cô gái ra mở. Tôi vội lách vào dùng súng áp đảo bắt há mồm, nhét luôn trái bóng nhựa vào miệng, cắt băng dán kín lại, bắt ngồi vào chiếc ghế có tay ngai, lấy băng dính cột tiếp cô ta vào đấy. Nghe tiếng dép lê, tôi nép vô chân cầu thang, bà chủ đã già từ trên lầu bước xuống bị tôi bắt há miệng nhét trái bóng, dùng băng dính dán kín và cột vô ghế. Xong, tôi cậy tủ vơ vét tiền, vàng, đồ quý nhét đại vào chiếc va ly con xách ra. Xe nổ máy. Thằng nhỏ đèo tôi một đoạn, dừng, tôi nhảy xuống dấu chiếc va-ly vào bụi cây, rồi ung dung trở lại vũ trường. Tất cả thời gian diễn ra chỉ chừng hai mươi phút. Không ai ngờ. Việc trót lọt. Những lần sau tôi đi cướp bằng thủ đoạn khác. Tôi quen lính quân cảnh Mỹ. Bọn chúng có những loại ống bằng cổ tay trong chứa khí độc thường dùng trấn áp biểu tình. Loại này nếu xịt gần sẽ xỉu liền. Có lần tôi thấy xuất hiện trước vi-la nhỏ một bà trạc bốn mươi tuổi, đẹp và rất quý phái. Sau khi tìm hiểu tôi biết bà ta là chủ hãng len Sài Gòn, chỉ có một cậu con trai học trên Đà Lạt, nhưng nội trú trong trường. Vi-la có một người trông coi, những ngày bà chủ lên đây thì người đó được về nhà nghỉ. Tối đó tôi đến gõ cửa. Bà chủ bận đồ ngủ ra mở. Tôi rút súng áp đảo bắt phải nộp tiền. Lúc đầu bà ta hơi hoảng, rồi trấn tĩnh lại ngay. Bà ta hỏi: "Cậu cần bao nhiêu tiền?". "Tôi cần nhiều". Bà ta dẫn tôi lên phòng ngủ, mở tủ lấy ra một xấp bạc lớn, sẻ đưa tôi một nửa. Trao tiền cho tôi xong bà ta càng bình tĩnh hơn. Dẫn tôi trở lại phòng khách, bà ta gieo mình xuống ghế sa-lon, chỉ chiếc đối diện mời tôi ngồi. Tôi không ngồi, vẫn đứng thế thủ, súng lăm lăm trong tay. Bà ta mở tap-luy lấy chai rượu ngoại quốc rót đầy hai ly, mời tôi. Tôi lắc đầu. Bà ta uống một hơi cạn ly thứ nhất, rót tiếp ly khác, bà ta nói: "Tôi muốn hỏi vì lý do gì mà cậu đi làm việc này? Nhìn cậu tôi đoán cậu không phải kẻ cướp. Vậy vì lẽ gì? Tiền tôi không thiếu, tôi có thể giúp, nếu cậu nói cho tôi biết lý do cậu làm điều bất lương này". Tôi im lặng, mắt trân trân nhìn bà ta. Bà ta đẹp một cách lộng lẫy và đầy quyến rũ trong bộ đồ ngủ màu hồng mỏng tang. Bà ta uống hết ly này tới ly khác, vẻ xúc động, than thở về cuộc đời bất hạnh và tình duyên ngang trái của mình. Đại để bà ta rất giầu, khốn nỗi ông chồng bất lực và hèn yếu không đáng một người đàn ông. Bà ta khát khao yêu đương và thèm muốn ân ái...Tôi nhìn đồng hồ: 10 giờ khuya. Tôi quay ra, nhưng đến cửa lại quay vào. Bà ta vẫn ngả người trên ghế. Tôi nhẹ nhàng cúi xuống, định hôn lướt rồi đi, nhưng bà ta bỗng quàng tay ôm ghì lấy tôi. Tôi bế bà ta lên lầu, vào phòng ngủ. Thế là đêm đó bà ta dâng hiến cho tôi. Rồi cũng từ đấy bà ta thành tình nhân của tôi. Tiền bà ta cấp cho tôi tiêu xài đầy đủ. Cũng từ đó bà ta rất chăm lên Đà Lạt. Chúng tôi lại cùng nhau đi chơi, đi nhảy. Có lẽ mấy người lái xe của gia đình bà ta biết về mách với ông chủ. Bẵng đi hai tháng không thấy bà ta lên. Một hôm tôi vừa vào quán cà-phê chưa kịp uống, bỗng có hai gã lạ mặt ngồi xuống hai bên. Bọn nó nhìn tôi rất sấc xược. Rồi một thằng hất hàm hỏi: "Có phải Võ Đằng Giang?". "Võ Đàng Giang đây. Tụi bay cần gì?". "Có biết bà Bích chớ?". "Biết". "Vậy là được rồi. Trên này tụi bây có nghe danh băng đại ca Đức "Rây-mông "chớ?". "Đù mẻ. Tau là đàn em đại ca Đức"Rây-mông" từ Sài Gòn lên đây". Tôi nói liền một mạch về Đức "Rây-mông" về những đại ca thủ lãnh đàn em khác trong băng khiến chúng trợn tròn mắt: "Thiệt hả? Trời ơi. Tụi em có mắt mà không thấy núi Thái Sơn, mong đàn anh bỏ qua cho nghen...”. Thì ra chúng chỉ là bọn du côn nhãi nhép đang tập làm giang hồ, mượn oai danh Đức "Rây-mông" loè thiên hạ vậy thôi và hai thằng đó kể cho tôi biết chồng người đàn bà ấy thuê chúng lên giết tôi, nào ngờ lại gặp hảo hán. Vậy là tụi nó mời tôi đi nhậu, đi nhảy bằng chính số tiền ông chủ hãng len thuê. Thời ông Thiệu là thế đó. Nghiện hút, tiền bạc, tình dục làm hư hỏng con người. Quân đội, cảnh sát, du đãng, thương gia dựa vào nhau để làm tiền. Biết là thối nát, là vô đạo mà vẫn phải sống...”
 Ở Trường phổ thông công nông nghiệp Xuân An, nơi giáo dưỡng các cháu vị thành niên phạm pháp. Tôi tiếp xúc với nhiều cảnh ngộ rất khác nhau. Xin trích trong "Sổ tay", tôi ghi theo lời kể của cháu Trần Văn Tuấn: "Ông ngoại cháu là lính ngụy làm ở kho quân nhu Gò Vấp thường lấy đồ tiếp vụ về nhà xài. Bà ngoại chết, bà ngoại ghẻ rất nanh ác. Nội cháu người Pháp, cứ ba năm lại về Pháp chích mỡ. Bà nội người Việt, nói tiếng Pháp thạo. Giầu lắm. Có vi-la và hai dãy nhà lớn trên đường Trương Minh Giảng, mỗi dãy tám căn cho người Mỹ mướn trả đô-la. Có nhiều đô-la gởi nhà băng. Vi-la ông bà nội ở rất sang. Bốn xe hơi. Buồng nào cũng có máy điều hoà. Phòng khách rộng trưng nhiều tranh đắt tiền, đồ cổ quý, đồng hồ treo tường mạ vàng có con chim én chạy theo kim, tới giờ con sóc ra gõ chuông. Ngoài vườn, ngoài hiên nhiều cây cảnh quý, chim quý, có loài đưa từ Pháp sang. Chỉ ông bà ở cùng sáu người hầu. Ba má cháu ở riêng. Ba là cảnh sát, tính rất nghiêm, mặt lạnh như tiền, khét tiếng gian ác, dạy con bằng roi vọt rất tàn nhẫn. Một lần cháu đá cầu làm bể cái ly của ổng. Ổng cột hai giò cháu rút ngược lên trần nhà quất gãy ba cây roi song, rồi hạ xuống xát muối vào những vết roi tứa máu. Hoặc nhét cháu vào bao bố cột túm đầu lại treo lên quất rồi thả vào thùng phuy nước chỉ để thò cổ lên rồi dùng chày gỗ đập ngoài phi. Ổng bồ bịch tùm lum. Đi với gái về má cháu ghen rày la. Nửa đêm ổng rút cây ru-lô bắn lên trần nhà. Đó là kết quả mấy năm ổng làm cảnh sát, chuyên tra tấn người. Ổng vừa làm cảnh sát vừa áp phe buôn lậu. Thất thế trong vụ thanh trừng nội bộ, bị cấp trên tống ra vùng một bắc Quảng Trị. Ra đó chừng hơn một tháng thì thấy cảnh sát đang đêm ập vô nhà tìm bắt ổng. Rất may trước đó mấy giờ ổng đã trốn thoát. Bặt tin tám tháng, một đêm mưa to ổng về. Cả nhà không ai nhận ra vì ổng để tóc lợp gáy, râu rậm kín miệng, bận đồ rằn ri lính dù. Ổng không cho ai nói to sợ lối xóm biết. Sớm hôm sau lại lặng lẽ đi. Thì ra ổng đảo nhiệm trốn về, nhờ dùng tiền chạy vô Trường sĩ quan lính dù. Mấy tháng sau học xong được về Tiểu đoàn 11, Lữ đoàn 2.
 Má cháu rất hay ghen. Bả thường nhốt cháu trong nhà, khoá cửa, giắt theo chiếc búa con vô người theo rình ổng. Có lần thấy ổng ngồi ôm một con ca-ve trong tiệm cà phê Ái Ly. Bả liền xông vào vừa đánh con đĩ vừa la lối om xòm. Khi ở Vũng Tầu ổng chơi bời quá xá, rượu chè, cờ bạc, đĩ điếm tùm lum, tiền gửi về khi có khi không. Bả uất quá trả thù bằng cách vào làm trong Sở Mỹ. Bả giống ổng ở chỗ đánh con rất dữ và tệ hơn rất keo kiệt. Cháu xin mấy đồng mua vở mà bả cũng la hoài. Rồi ổng về đưa cả nhà vô căn cứ lính dù gần xa lộ Sài Gòn - Biên Hoà, trong khu gia binh. Ổng đi hành quân miết ngoài Buôn Ma Thuột, Plây-ku, Kông-tum thi thoảng mới về. Bả đi bồi phòng trong Sở Mỹ, có nhiều tiền khách bao lại thường vớ đồng hồ, bạc họ bỏ quên. Cháu học trong trường giữa khu gia binh do Mỹ xây dựng, đầy đủ lắm. Trường này chỉ dạy cho con lính. Ở đây cháu thân với thằng Bảo và thằng Minh con hai ông đại uý khét tiếng gian ác, chúng được cưng phá phách quá trời. Bọn nó tập cho cháu biết hút thuốc, tiêu tiền, coi phim cao bồi, võ hiệp. Má cháu chưng diện ngất, son phấn nước hoa vào là đi tối ngày. Bả rất mê cờ bạc. Bả hay đánh cháu. Có lần cháu nấu cơm để quên trên bếp ra hồ chơi với bạn, cơm cháy, bả về đánh cháu gãy ba cái roi song, trói lại bắt nhịn cả ngày luôn.
 Rồi ba cháu đụng độ với cộng quân ngoài Quảng Trị bị thương gãy tay, cụt một giò, thủng ruột xuýt toi mạng, về Sài Gòn chữa mãi mới lành, bị thải khỏi lính. Ổng chán đời. Má cháu chán ổng. Cãi lộn nhau suốt. Ổng say rượu tối ngày chửi bới tùm lum. Bả bỏ nhà vào ở hẳn trong Sở Mỹ, chưng diện, chơi bời, cờ bạc. Nhà tan nát. Cháu sầu quá bỏ học đi bụi đời, sống lơ lửng như những hạt bụi, quên quá khứ và cũng chẳng cần biết tương lai. Tụ tập thành băng có đại ca thủ lãnh. Không nhà cửa lang thang nay đây mai đó, trên người chỉ độc bộ đồ, bẩn thì tháo ra gởi tiệm giặt, thuê bộ khác mặc. Thủ lãnh sai khiến chia nhau đi ăn cắp: giật đồng hồ, dây chuyền vàng, bông tai, móc ví, thấy bà nào giầu đeo vòng cẩm thạch lấy hột trứng gà bất ngờ đập vỡ cho trơn rồi kéo tuột khỏi cổ tay, ăn cắp xe đạp, honda, con heo dầu, gương, đèn ôtô, bẻ khoá vào nhà chôm đồ...Chợ, rạp hát, sân bóng, bến xe, bến tầu, nhà hàng, trên hoả xa, trên xe buýt...là đất làm ăn. Kiếm được ăn tiêu xả láng, vô rạp coi xi-nê, thuê buồng khách sạn. Không kiếm được thì nhịn đói, nằm ghế đá vườn hoa, vỉa hè.
 Sống cực quá lại bị thủ lãnh đại ca ăn hiếp, cháu bỏ bụi đời xin làm trong tiệm cà phê. Một lần đụng bể chiếc ly bị chủ nhà đánh. Cháu ăn cắp tiền ở đó rồi trốn. Cháu lại xin vào làm trong một quán ăn kiêm nhà trọ. Nhà có 28 phòng. Cháu vừa chạy bàn vừa dắt gái cho khách. Cháu chơi với thằng Hùng. Nó phải dẫn ngoại đi xin ăn, cháu thương lén lấy cơm và đồ ăn cho bà cụ. Chủ nhà biết đánh cháu dữ quá. Cháu thấy con người sao mà tàn ác, sầu đời uất hận cháu lại theo băng thằng Sơn "gấu", Tùng "hổ xám", Vu "cá mập", Độ "khỉ đột", Bảy "thẹo"...đi bụi đời. Lại giựt đồng hồ, bông tai, dây chuyền...Có tiền xài tụi cháu tập chích xì ke. Lần đó thiếu tiền mua thuốc tụi cháu đập một ông già ngất xỉu cướp Honda bị cảnh sát bắt được tống khám Chí Hoà. Mấy tháng sau giải phóng về, chúng cháu được đưa đến đây.
 Vào cái trường giáo dưỡng này lúc đầu cháu rất bướng. Thày hỏi tên? Cháu nói tên ghi trong hồ sơ đó. Hỏi ba má? Cháu nói con hoang không có ba má. Hỏi quê quán? Cháu nói bụi đời lang thang đầu đường xó chợ làm chi có quê...Cháu lười lao động. Cuốc đất chối tay, cáo bệnh nghỉ, ăn cắp của bạn, đánh lộn tùm lum, chít cả nước bọt vô mặt thày giáo. Bị tập thể kiểm điểm. Uất. Cháu tính chuyện trả thù. Nhưng thày giáo vẫn thương. Rồi cháu bệnh thiệt, sốt ly bì. Thày lo lắng chăm sóc bón cho cháu từng thìa cháo. Cháu nghĩ các thày thương mình thiệt chớ không như ba má. Cháu hối hận. Bây giờ thì cháu tiến bộ rồi...”
 Tại Trại cải tạo Long Thành (N.765) nơi giam giữ những phạm nhân trọng án. Tôi tiếp xúc không ít quan chức và sĩ quan cao cấp thời Mỹ ngụy. Trong đó có Nguyễn Thị Minh Thiên, cục trưởng Cục Quân huấn thuỷ quân lục chiến của tổ chức hỗn hợp tàn quân sau năm 1975. Đối tượng không chịu trình diện, bị bắt trên đường đi vào mật khu tại một vùng biên giới do tướng Ngô Quang Chưởng chỉ huy bọn tàn binh hoạt động chống phá cách mạng. Vào trại thị không chịu khai, khắc lên tường phòng giam: "Chí những người toan xẻ núi, lấp sông. Dù khám lạnh dù gông cùm ta bất chấp" Ký tên "Một phụ nữ lo việc nước". Ta gài người của mình giả phạm nhân vào cùng phòng giam, được mấy ngày thị hỏi: "Việt cộng cử chị vô đây hả? Chị sẽ không khai thác được gì ở tôi đâu". Nghĩa là thị rất tinh quái và chống cộng quyết liệt.
 Ở thời điểm tôi gặp thái độ chính trị của chị ta đã có chút thay đổi, nhưng cũng phải mất khá nhiều thời gian và bằng nhiều cách gợi hỏi tôi mới trò chuyện được, sau đó ghi lại...
 “... Năm 1967, tôi làm thông dịch viên cho vợ chồng ông trung tá Viên. Họ ở Nha Trang phụ trách Câu lạc bộ sĩ quan. Sau Mậu thân 1968 vợ chồng ông Viên về Hậu Nghĩa (Củ Chi) buôn bán với quân đội. Nhờ có nhan sắc và tài nói chuyện tôi quen hầu hết giới sĩ quan cao cấp từ tá trở lên. Tôi có ý thức lợi dụng sự quen biết này. Đầu tiên tôi bắt bồ với Võ Sanh Nhơn tỉnh trưởng Hậu Nghĩa cốt y bao cho vợ chồng ông Viên và tôi được độc quyền giặt ủi và cung cấp thực phẩm cho Câu lạc bộ Sư đoàn 25 bộ binh. Tôi thường đi xe riêng và ngồi trực thăng với Nhơn luôn. Sau đó tôi về Sài Gòn. Tại đây tôi cặp bồ với thiếu tá Võ Văn Nho, trưởng Ty Cảnh sát Gia Định nhằm buôn lậu đồ Mỹ trong phi trường Tân Sơn Nhất. Để đạt việc tôi móc nối với Đào Phi Hùng lính dù không cấp bậc mà rất nhiều thế lực và Lâm Quang Nhược trung tá lính dù. Khi Nho rời ghế trưởng Ty Cảnh sát Gia Định về nắm Sở Ngoại kiều tôi bám rất sát con bài này để móc nối với khách du lịch, đồng thời cặp bồ với Nguyễn Hữu Tùng thiếu tá về thay Nho. Vợ Tùng thân với tôi làm thông dịch viên cho phái bộ Viện trợ quốc tế. Tôi mở rộng quan hệ ra giới quân sự cao cấp. Đi chơi nhiều trong các câu lạc bộ sĩ quan như không quân, dù, tiếp vận...Vừa khôn, vừa xinh đẹp, vừa giầu tôi được mọi người tranh nhau đón tiếp. Noel năm 1968 tôi gặp trung tá quân nhu Phan Văn Lịch, rất đẹp trai, em trung tướng Phan Trọng Chinh bên quân huấn. Chúng tôi yêu nhau và sống với nhau mặc dầu chưa hiểu hoàn cảnh gia đình nhau, bởi cần gì, yêu là đủ. Đó là vào mùa xuân năm 1969. Chúng tôi ở một ngôi nhà sang trọng. Chị gái anh Lịch là Nga, chồng là đại tá Mỹ làm cố vấn trong Phủ Tổng thống. Mãi sau tôi mới biết Lịch đã có vợ quốc tịch Mỹ ở bang Virginia và một con. Tôi yêu cầu anh ấy sang Mỹ lo ly dị với người vợ Mỹ, chỉ có tôi thôi. Ảnh đồng ý và thu xếp đi. Đầu tháng 6 năm 1969 anh ấy được gắn lon đại tá và được cử đi làm tuỳ viên quân sự của chính quyền ông Thiệu ở Đại sứ quán Việt Nam cộng hoà tại Washington trong nhiệm kỳ sáu tháng. Hẹn tôi sáu tháng sau ảnh về mọi việc sẽ thu xếp xong và cưới nhau.
 2 giờ sáng ngày 6 tháng 9 năm 1969 xe đón anh ấy ra phi trường Tân Sơn Nhất. Từ đó xa luôn. Đôi khi ảnh có gửi thư và tiền về, nói tài sản ở Việt Nam tôi toàn quyền sử dụng. Hai năm sau Lịch bị tù mười tám tháng vì tội tham nhũng hai trăm ngàn đô-la, đào nhiệm khỏi quân đội, nhập quốc tịch Mỹ, hùn vốn với hãng thuốc lá Karavena tại cảng Virginia dưới cái tên Roy Claude Phan Văn Lịch. Tôi yêu. Tôi căm. Khóc và chán chường. Tôi lao vào chơi bời phóng đãng. Trên đường giao du tôi gặp Trịnh Văn Kim là anh trai bố nuôi tôi, ngoài sáu mươi tuổi, làm giám đốc báo chí và có chân trong Ban giám đốc Đài truyền hình Mỹ tại miền Nam ABC NEWS. Tôi cặp bồ và sống với Kim mục đích để Kim bao, song hơn thế, làm việc tại đó dễ nổi tiếng, có tên và hình truyền về Mỹ cho Lịch thấy tôi đâu có xoàng, như thế cho hả. Để không bị ám ảnh kỷ niệm với Lịch tôi bán nhà tới khách sạn Karaven thuê phòng cực sang ở và đi lại với Kim, rồi thuê vi-la ở đường Hàn Thuyên. Với tư cách vợ Giám đốc báo chí tôi có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu, quen với ký giả các hãng thông tấn trong và ngoài nước, đi quay phim chụp hình mọi nơi. Tôi có "Thẻ nhà báo" viết nhiều cho tập san "Sóng Thần" của thuỷ quân lục chiến. Kim bao tôi rất hậu. Ông ta có một vợ năm con, nhưng bà vợ đã lấy trung tá Nhân làm ở Bộ Quốc phòng. Sau đó tôi biết Kim lén tôi cặp bồ với bà Dung. Chồng bà ta là đại tá làm tuỳ viên quân sự ở nước nào đó không biết. Khi tôi đi công cán tại mặt trận miền Trung hai người sống với nhau, đưa nhau đi ăn, đi nhảy. Mùa hè năm 1971 họ say mê ở Vũng Tầu, Nha Trang, Đà Lạt thì tôi lăn lộn trong khói lửa ở Huế, Quảng Trị, An Lộc, Khe Sanh...Bà Dung bốn mươi tuổi nhưng mập mạp trắng trẻo.
 Khi về, nhân sinh nhật, tôi mở tiệc mời tất cả khách tai to mặt lớn: dân biểu, nghị sĩ, thương gia, giáo sư, nhà văn, nhà báo, tướng tá, các bộ, cục, phủ, nha...cốt đẩy bà Dung ra khỏi tầm tay của Kim. Bị ngợp choáng Kim đưa tôi đi du ngoạn với tư cách cố vấn báo chí cho Kim. Để thoát dần sự bao buộc về tài chính của Kim tôi lao ra làm thương mại, làm đại diện giao dịch cho các công ty xuất nhập cảng. Chạy áp phe cùng với tiền Kim cấp tôi sống rất đế vương. Tôi cộng tác với Hãng kiến trúc Kytaco, Hãng nhập cảng mỹ phẩm Bipertruman, An Long công ty xuất cảng ngư nghiệp...
 Thời kỳ đỏ lửa năm 1972 tôi có mặt ở bắc Quảng Trị để quay phim, bỏ tiền uý lạo thương binh và tài trợ cho các văn nghệ sĩ ở tập san "Sóng Thần" và các tập san khác của quân đội, quen biết hầu hết tướng tá. Tôi càng nổi tiếng, khắp quân khu ai cũng biết. Dịp này tôi gặp bác sĩ Văn tại Huế. Anh là trung tá thuỷ quân lục chiến. Văn đem lý tưởng dùng y khoa để phục vụ quân đội bảo vệ Tổ quốc. Tôi và Văn yêu nhau. Cũng như trước đây với Lịch, tôi và Văn chưa hề biết gì về đời tư của nhau. Yêu, thích là đủ rồi. Sau đó Văn bị thương đưa về Quân y viện thuỷ quân lục chiến. Tôi có tới thăm Văn và đến nhà báo tin cho vợ anh biết. Vợ anh là luật sư. Thời gian này Kim bỏ bà Dung và lấy cô bạn tôi là Tuyết, thuê nhà riêng ở. Kim dấu tôi nhưng vẫn bao cấp tiền hàng tháng cho tôi đủ. Tôi cứ lờ đi, bởi lúc này tôi cần tiền chứ không cần Kim nữa. Kim mở cho tôi một tài khoản ở nhà băng Đại Nam với số bạc là năm mươi vạn để sử dụng thường xuyên khỏi làm phiền ông ấy. Mấy tháng sau Kim tới thuyết phục tôi cho ông ấy tự do sống với người đàn bà khác tên là Hằng, ba sáu tuổi, bỏ chồng là trung tá Trần Ngọc Ẩn, biệt động quân. Tôi đồng ý với điều kiện bao cấp cho tôi mỗi tháng 150 ngàn đồng. Ổng đồng ý. Cuối năm 1973 Mỹ buộc phải rút hết quân, các hãng thông tấn quân sự cũng rút về New Yook, Kim phải nghỉ việc, ông ta gửi cho tôi bao thư và năm mươi ngàn đồng cuối cùng coi như sự trả giá để thoát của nợ.
 Bấy giờ tôi làm vũ nữ cho các hộp đêm sang trọng Chợ Lớn. Cuối năm 1972, dịp ăn chơi tôi kiếm tiền vô kể. Tôi quen Đa-vít Lim nổi tiếng công tử Tân Gia Ba độc quyền đường biển Sài Gòn - Singapor, tướng cướp Hấu vùng Tân Châu, bà Kim Long nổi tiếng buôn lậu vùng biên giới Tây Ninh hoặc Nguyễn Thành Danh hạm trưởng Tầu 403 kiêm cướp biển. Bọn ba tầu Chợ Lớn cũng phải kiêng nể tôi. Tôi quen với trung tá Nguyễn Thừa Du ở Cục tâm lý chiến và ra vào đóng góp nhiều ý kiến với trung tướng cục trưởng.
 Năm 1975 mất Phước Long, vũ trường đóng cửa, tôi lao vào các hoạt động xã hội: uý lạo binh sĩ, thăm viếng thương binh, cứu trợ gia đình binh lính...
 Khi giải phóng tôi ở nhà ba má tôi. Trước đó chị Nga của Lịch đi Mỹ có cho tôi căn nhà số 110 Nguyễn Đình Chiểu. Tôi lên ở đó. Trước khi bọn sĩ quan đàn em đi cải tạo hoặc hồi hương đến chào tôi và tôi đãi tiệc. Say xỉn họ la lối chửi cả chế độ Mỹ ngụy lẫn chế độ cộng sản. Uỷ ban quân quản tới tịch thu nhà vì của dân di tản. Tôi chống đối bị bắt một tuần. Không còn gì, tôi lang thang. Bọn tài phiệt Chợ Lớn cấp cho tôi tiền nhưng không đủ tiêu xài. Tôi buôn lậu, rồi đi Châu Đốc tìm cách vượt biên. Đi bộ, ba người bị bắt, tôi và bốn người chạy thoát. Tôi gặp Hấu là tướng cướp nhưng dưới chế độ cộng sản đã hết thời làm ăn, không giúp gì được, Hấu dúi cho tôi chút tiền còm rồi đẩy tôi đi. Tôi đi khắp: Bến Tre, Ba Tri, Bà Rịa, Long Khánh, Bình Đại, Nha Trang, Buôn Ma Thuột, Tây Ninh, An Giang...cốt tìm đường vượt biên. Cuộc sống vừa chui lủi, vừa cùng quẫn. Càng ngày tôi càng bất mãn.
 Cuối năm 1975 tôi nghe đồn có chuyện lộn xộn ở vùng biên giới. Quân ngụy đã tập trung lại được. Các tướng tá đã tề tựu ở mật khu do tướng Lân và trung tướng Ngô Quang Chưởng chỉ huy. Tôi đi Tây Ninh, rồi Châu Đốc. Tôi bắt được liên lạc của tổ chức tàn quân. Tôi được phân công ở lại Sài Gòn lo tiếp vận. Tôi mở quán cà phê để đồng bọn dễ tới liên lạc. Giới tài phiệt ba tầu lại đóng góp tài chính. Người liên lạc từ mật khu tới tôi là thiếu tá Lợi, em nuôi tôi trước đây. Lợi báo cáo cho tôi mọi tình hình ở mật khu. Tôi biết trong mật khu trung tướng Ngô Quang Chưởng là tư lệnh, thiếu tướng Lân là phó, chuẩn tướng Trần Minh Định nắm nội ngoại vụ và tài chính, chuẩn tướng Hiếu là tư lệnh hỗn hợp quân. Tôi khi vào sẽ phụ trách Cục Quân huấn.
 Tháng 6 năm 1976, tôi tới vùng ba biên giới thuộc Kon Tum. Đến đây tôi gặp đủ mặt: tướng Lân tư lệnh cũ của thuỷ quân lục chiến, đại tá Thọ, đại uý Sơn Hải, trung tá Trường Sơn, trung tá Vượng, cha tuyên uý công giáo là Phê-rô Đỗ Văn Thuận. Trong cuộc họp này tôi nhận chức cục trưởng Cục Quân huấn.
 Tôi trở lại Sài Gòn, ở nhà bố nuôi tôi, rồi đóng vai cán bộ hải sản đi khắp nơi: Hà Tiên, Rạch Giá, An Giang, Châu Đốc...thường xuyên bằng xe hải sản. Tôi quen biết nhiều lại giầu kiến thức về ngành này nên lọt qua mọi lưới kiểm soát dễ dàng. Tôi quen với Cử ở Trung đoàn 20 và vào được trại giam sĩ quan ngụy. Tôi cặp bồ với Tằng lái xe bộ đội hải quân vì thế tôi đến căn cứ Đồng Tâm luôn. Tôi cặp bồ với Hoạch lái xe từ Phú Khánh-Đắc Lắc, đi nhiều lần để nghiên cứu mạng kiểm soát giao thông và biết ở đâu có căn cứ quân sự dọc tuyến đường này.
 Sau đó tôi được biết trung tướng Ngô Quang Chưởng thanh lọc bằng cách thí người không ăn cánh với mình cho cộng sản bắt. Có thể tướng Lân của tôi cũng bị ổng thủ tiêu cũng nên. Tôi quyết định vào mật khu xem sao. Và chuyến đi này tôi bị bắt.
 Vào tù không còn bị thôi miên bởi đô-la, tình dục và quyền lực khiến đầu óc tỉnh táo hơn. Nhiều đêm tôi trằn trọc không ngủ nghĩ về cuộc chiến này và dần dần nhận ra rằng người Mỹ đã nắm rất sâu và có nhiều chiến lược rất cụ thể để chiếm miền Nam Việt Nam ngay sau Hiệp định Giơ-ne-vơ khi Ngô Đình Diệm làm tổng thống. Trước hết họ tập trung đầu độc thế hệ trẻ bằng các loại văn hoá phẩm. Cho nhập vào miền Nam rất nhiều sách báo, tranh ảnh. Thời kỳ đầu nội dung nhằm giới thiệu nước Mỹ: nước Mỹ giầu, văn minh, tự do, có cao ốc chọc trời, các công trình cực kỳ sang trọng, xe du lịch như mắc cửi. Người Mỹ đẹp, ăn diện, cuộc sống dư thừa sung sướng. Nông dân làm ruộng bằng máy, thu hoạch, chế biến cũng bằng máy, đi lại bằng xe hơi...
 Để chứng minh điều đó họ đưa hàng Mỹ sang rất nhiều, rất đẹp, giá rất rẻ. Học trò miền Nam được khuyến khích nếu học tiếng Anh sẽ ngồi trường do Mỹ xây, cao đẹp, đựơc phát giấy bút, cặp sách, quần áo đồng phục, có xe đưa đón và ăn trưa không mất tiền. Tiền Mỹ viện trợ chính phủ Việt Nam cộng hoà phải dùng xây trường mới, bệnh viện mới, công sở mới chứ không được dùng làm kinh phí sửa chữa cốt để so sánh với Pháp trước, nhằm nổi bật Mỹ. Cháu nào học Anh ngữ thì được vào "Hội cha mẹ nuôi người Mỹ", tên, địa chỉ được gửi qua Mỹ, tháng sau bố mẹ nuôi từ Mỹ gửi thư, hình và nhiều quà về cho. Nghỉ hè những em học giỏi Anh ngữ được chọn sang Mỹ thăm bố mẹ nuôi. Sang đó được đón tiếp thân tình, đi du lịch trên nước Mỹ, được quà mang về. Tất nhiên kinh phí đó chính phủ Mỹ lo hết. Thế là chúng trở thành những chiếc loa tuyên truyền ca ngợi Mỹ. Sinh viên nếu qua Mỹ học được học bổng hậu, được đào tạo nhiều ngành, đặc biệt ngành tư pháp, hành chính, quân sự, cảnh sát, kinh tế, thương mại... để khi về sẽ tổ chức bộ máy xã hội theo ý Mỹ. Mỹ xây cư xá, làm đường với danh nghĩa "Mỹ quốc viện trợ", nếu qua nhà, vườn cây của gia đình nào, người Mỹ đến tận nơi giải thích, xin lỗi, mong được bồi thường rất sòng phẳng và rộng rãi. Hoặc trả bằng đô-la, vật liệu xây dựng, hoặc đổi đền đến cư xá nào do Mỹ xây tuỳ ý chọn. Mỹ đầu tư vào các công ty của chính phủ Việt Nam cộng hoà, hoặc với tư nhân số vốn lớn nhưng lại lấy lợi nhuận thấp hơn nhiều so với Hoa kiều, Pháp, Nhật...Giỏi tiếng Anh xin vào làm trong Sở Mỹ rất dễ, lương cao lại được mua hàng Mỹ giá rẻ. Đường phố trước đây lấy tên Pháp gây bất bình cho nhiều người Việt Nam nhất là giới trí thức, nay người Mỹ bỏ hết, thay vào đó là tên các anh hùng dân tộc như: Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Trần Quốc Toản, Phan Đình Phùng, Trần Nguyên Hãn...Hơn thế nhiều vị còn được coi là thánh tổ của các binh chủng quân đội Việt Nam cộng hoà như: Trần Hưng Đạo là thánh tổ hải quân, Trần Nguyên Hãn là thánh tổ thông tin, Phan Đình Phùng là thánh tổ công binh...
 Nghĩa là giai đoạn đầu Mỹ chủ trương từ các cháu học sinh, phụ huynh học sinh, sinh viên, công chức, người làm thuê, thương nhân, nông dân, quân đội...cùng nhiều tầng lớp xã hội đều phục Mỹ, thân Mỹ, coi Mỹ là bạn khác hẳn với Pháp trước đây là kẻ xâm lược, từ đó ngưỡng mộ và muốn theo Mỹ.
 Sau đó dần dần Mỹ thay đổi nội dung tuyên truyền rất tinh vi nhằm lộn sòng thật giả. Chẳng hạn Gia Long được giải thích là ông vua thức thời, cách tân, bắt tay với Pháp là tiếp cận Tây học át Nho học đã lỗi thời, là du nhập phương thức sản xuất tư bản tiến bộ hơn phong kiến, mà ông Ngô Đình Diệm cũng đang muốn thực thi kế sách ấy. Không chỉ sách báo tranh ảnh nhằm giới thiệu văn minh và sự giầu sang của Mỹ mà nội dung cũng khác để phối hợp với việc ồ ạt nhập phim ảnh Mỹ nhằm truyền bá lối sống Mỹ đặc biệt lối sống vật chất thực dụng, lấy hưởng thụ làm mục đích. Báo, tạp chí, truyền hình giới thiệu quảng bá đề cao phim cao bồi, giật gân tình ái và bạo lực rất cuốn hút nhất là giới trẻ để đón đợi khi trình chiếu là cuồn cuộn đổ đi xem. Họ không chỉ đón đợi mà bị nghiện phim Mỹ. Cùng với phim ảnh là nhan nhản sách tuyên truyền lối sống gấp, sống với dục vọng cá nhân điên cuồng: ăn chơi, tiền bạc, chém giết và tình dục. Các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, giáo dục...đều có cố vấn Mỹ, đặc biệt chính trị và quân sự người Mỹ can thiệp rất sâu, rất cụ thể. Lớp cố vấn đầu tiên được chuẩn bị sẵn từ Mỹ. Thằng nào cũng rất sõi tiếng Việt, am hiểu văn hoá, tập quán người Việt. Nó được dạy tại Mỹ do người Việt giảng nên có tên nói giọng Bắc, có tên nói giọng Nam. Sau này khi nó thực hiện chiến tranh cục bộ ồ ạt đưa quân vào thì cố vấn cũng ô hợp. Có tên dốt nát văn hoá thấp, xuất thân từ nông thôn, có thằng chưa bao giờ được đặt chân đến thành phố lớn, thậm chí mù chữ, đeo lon trung sĩ làm cố vấn đại đội trong khi chỉ huy đại đội đó lại là một trung uý ngụy đã tốt nghiệp tú tài toàn phần. Nhưng quyền quyết định lại do cố vấn. Bởi thế bất hoà giữa sĩ quan ngụy và cố vấn Mỹ ngày một sâu sắc. Không chỉ trong quân đội mà các lĩnh vực khác kể cả Phủ Tổng thống, chỗ nào có cố vấn Mỹ là có bất đồng với người Việt. Sự suy yếu của Việt Nam cộng hoà một phần cũng vì thế. Song nguyên nhân chính khiến chúng tôi thua, cộng sản thắng bởi cộng sản sống có lý tưởng, chiến đấu có lý tưởng rõ ràng và cao đẹp lại có ông Hồ quá giỏi, tướng Giáp quá tài, được mọi người dân tin tưởng ngưỡng mộ một lòng trung thành sả thân. Trong khi chúng tôi nhất là giới trẻ không được giáo dục. Ngay từ cái điều cốt yếu yêu Tổ quốc, yêu đồng bào cũng không được dạy dỗ, lại bị người Mỹ tìm mọi cách nhồi sọ cách nghĩ Mỹ, lối sống Mỹ. Chúng tôi tự tìm cho mình con đường nào ngắn nhất để có tiền xài. Nhiều tiền bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Bọn trẻ chỉ nghĩ tới lối sống ông hoàng hay đạo tặc. Đời là tiền, là nhục dục, là được mạnh, yếu thua. Mà muốn mạnh, muốn được phải nhiều tiền. Tư tưởng ấy, đạo lý ấy đã phá vỡ bộ óc non trẻ, phá vỡ cuộc đời họ. Trong khi bộ máy cầm quyền thì soạn ra luật mà không trọng luật. Luật chỉ để xử người thế cô, kẻ mạnh, kẻ giầu đâu phải sống trong vòng luật lệ. Bởi vậy triết lý sống vì tiền càng thôi thúc họ. Nhiều tiền sẽ có sức mạnh và có sức mạnh sẽ có nhiều tiền. Suy cho cùng chúng tôi sống chẳng có lý tưởng gì hết, nếu có thì chẳng qua đều bị đồng tiền và những kẻ nhiều tiền thôi miên, chi phối, sai khiến. Kẻ nhiều tiền ấy là Mỹ. Vũ khí mà người Mỹ dùng trong chiến tranh Việt Nam không chỉ bom đạn huỷ diệt cuộc sống mà nguy hại hơn là tiền, là đô-la. Chính đồng đô-la Mỹ huỷ hoại nhân cách đạo lý, tình nghĩa, truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam nhất là những ai mù quáng tin theo chính quyền Việt Nam cộng hoà. Như thế thì chúng tôi thắng cộng sản sao được. Nhưng đó là trong chiến tranh. Nay vãn hồi hoà bình rồi nếu các ông không xác lập được thể chế xã hội mới tốt đẹp hơn. Chừng nào quan lại còn lộng quyền hống hách và tham nhũng, nhân dân bất bình oán hận, trí thức và giới trẻ mất niềm tin thì bại vong cũng ở ngay trước mắt thôi.”
 Hầu hết các đối tượng tôi gặp ở đấy là sản phẩm chế độ thực dân mới Mỹ ngụy và nạn nhân chiến tranh với biết bao cảnh ngộ, bao số phận bi thương, ai oán, lênh đênh chìm nổi, bất hạnh đau khổ với biết bao sự hỗn tạp, tàn bạo và nhân ái, quỷ dữ và thánh thiện, máu và nước mắt, thác loạn đến điên cuồng trong hoan lạc và say xỉn, đỏ đen thắng thua, bịp bợm trong cờ bạc, thủ đoạn tàn bạo trong chính trường, gian giảo lừa lọc trong thương trường...Nếu không đi thực tế, không gặp, không hỏi, không biết, không hiểu về họ thì dù nhà văn có trí tưởng tượng phi thường đến mấy cũng không thể nghĩ ra được.
 Những tài liệu trên đây là tôi rút từ ghi chép trong "Sổ tay" chưa sử dụng vào sáng tác nào của mình. Thời gian đã lâu nhưng "vẫn còn tươi nguyên". Tôi viết ra với mong muốn giúp các bạn dễ hình dung và hiểu thêm về xã hội thời ngụy quyền Sài Gòn.
 
*
*   *
 
 Đề tài đã từ lâu nghiền ngẫm trong đầu, lại sau một chuyến đi thực tế dài ngày, tài liệu nhiều, vốn sống bề bộn, cảm xúc đang dào dạt, về tới Hà Nội là tôi dành thời gian bắt tay viết ngay tập ký sự "Phía sau tội ác". Căn phòng nhỏ của tôi chỉ vẻn vẹn mười hai thước vuông ở số 64 phố Bà Triệu đèn luôn sáng và chiếc máy chữ xách tay Olempia mổ rào rào liên tục. Hơn một tháng xong bản thảo, tôi gửi vào cho chị Thanh Thảo, giám đốc Nhà xuất bản Đồng Nai, được chấp nhận ngay và ấn hành trong năm ấy.
 Liền sau đó tôi gấp rút làm đề cương tiểu thuyết "Đối mặt kẻ tử thù"...
 Trung tá Bảy Long, hiệu trưởng Trường giáo dưỡng vị thành niên phạm pháp. Trong chiến tranh anh là chỉ huy một đơn vị biệt động thành Sài Gòn nổi tiếng với những trận đánh xuất quỷ nhập thần khiến Nha Cảnh sát đô thành trương hình anh khắp nơi, treo giải năm chục vạn đồng nếu ai bắt được, hoặc cung cấp thông tin để nhà chức trách bắt Bảy Long. Hường Trâm, người đã cứu anh trong một trận bị cảnh sát truy đuổi, được anh giác ngộ và trở thành chiến sĩ biệt động dũng cảm. Họ yêu nhau và lấy nhau. Trong trận ám sát tên đại sứ Mỹ, tạc đạn không nổ, Hường Trâm bị bắt. Tên Năm Xồm, trưởng Phòng Thẩm vấn, Nha Cảnh sát Đô thành dùng đủ cực hình tra tấn chị đến chết, lúc đó Hường Trâm đang mang thai. Căm hận không thể kìm nén, Bảy Long tổ chức trận đánh táo bạo nhằm thẳng Nha Cảnh sát vào buổi sáng đầu tuần trong khi bọn chúng đang tập trung chào cờ. Đó là trận trả thù của Bảy Long khiến bọn chúng kinh hoàng. Nhưng cũng từ đó không tìm ra tung tích tên Năm Xồm. Nghe đồn hắn thất thế trong cuộc thanh trừng nội bộ, bị tống ra vùng một bắc Quảng Trị và tử trận.
 Đô "hai còng", học sinh trường giáo dưỡng, là con hoang, một phần tử bất hảo, ngoài đời gây án, bị bắt vào trường hắn điên cuồng như thú dữ, quậy phá, đánh lộn. Họp tổ kiểm điểm bạn phê bình, hắn thù. Đêm khuya hắn lén dậy nhặt những túi nhựa mỏng cho vào ống bơ đun chảy rồi đổ vào tai bạn. Lần khác cãi lộn, hắn bổ cào sau lưng bạn mũi thép xuyên thấu phổi. Có thể nói hắn mất tính người. Giáo viên trong trường chia làm hai quan điểm. Một: phải dùng biện pháp rắn, nhốt ca-sô, cúp cơm, bỏ đói. Hai: bằng tình thương để cảm hoá, giáo dục. Bảy Long chủ trương quan điểm thứ hai.
 Một hôm trực ban điện báo cáo: "Có người nhận là cha Đô "hai còng" đến thăm hắn". Hắn là con hoang, sao có cha? Muốn biết thực hư, Bảy Long ra "Nhà thăm nuôi". Anh hết sức ngỡ ngàng. Cha Đô "hai còng" chính là Năm Xồm, trưởng Phòng Thẩm vấn, Nha Cảnh sát Đô thành, người đã tra tấn vợ con anh đến chết và cũng chính hắn đề xuất trương hình anh khắp Sài Gòn để săn tìm. Dù bây giờ hắn thân tàn ma dại, cụt giò, chống nạng, râu tóc bù xù, nhưng anh vẫn nhận ra. Dường như hắn cũng nhận ra anh, đôi mắt hốt hoảng cúp xuống, co dúm người vào góc tường cố lấy tay che mặt.
Thế là kẻ tử thù suốt bao năm Bảy Long săn tìm bỗng xuất hiện, không những thế thằng con bất hảo của hắn đang trong tay anh.
 Bao đêm trằn trọc bởi cuộc đấu tranh giằng xé trong tâm: trả thù riêng hay vượt qua chính mình bằng lòng bao dung độ lượng, nhân ái cao cả tha thứ, cứu vớt những kẻ đã một thời lầm đường lạc lối gây biết bao tội ác lấy lại nhân tính, sám hối hoàn lương? Cuối cùng lòng nhân ái đã thắng. Anh nghiến răng nhẫn nhịn trước những hành động ngày càng cường bạo của Đô "hai còng" và kiên trì giáo dục hắn. Đô "hai còng" sau khi biết rằng cha đẻ của hắn đã giết vợ con thày Bảy, là kẻ tử thù của thày Bảy, mà thày Bảy vẫn độ lượng tha thứ, lại tận tâm dạy dỗ hắn. Hắn hối hận rồi hoàn lương. Bảy Long không chỉ tha thứ, anh còn tìm cách để gia đình Năm Xồm đoàn tụ khiến y tâm phục, khẩu phục quỳ dưới chân anh tạ tội.
 Cuộc đối mặt giữa Bảy Long và Năm Xồm là trường hợp phổ biến, điển hình của miền Nam sau ngày giải phóng. Cách nghĩ thế nào, cách giải quyết, ứng xử thế nào vừa hợp đạo vừa hợp đời với những người đã từng là kẻ thù của nhau, nay chung sống với nhau.
 Xoay quanh số phận mấy nhân vật chính và các nhân vật khác tiểu thuyết mở rộng quy mô phản ánh bình diện nhiều mặt của xã hội thời Mỹ ngụy và giải quyết bằng sự cao cả của lòng nhân ái.
 Xong đề cương, tôi "trốn" vào Khách sạn chuyên gia của Công ty xi-măng Bỉm Sơn gần hai tháng, viết một lèo. Chương nọ gọi chương kia, nhân vật này đánh thức nhân vật khác. Vốn sống nhiều. Bảy Long và Hường Trâm lấy nguyên mẫu từ các chiến sĩ biệt động thành Sài Gòn. Năm Xồm nguyên mẫu lấy từ các tướng tá ngụy tôi đã gặp ở Trại cải tạo Long Thành. Tuyết Mai, vợ Năm Xồm nguyên mẫu từ gái mại dâm các loại tôi gặp ở Trường phục hồi nhân phẩm Thủ Đức. Đô "hai còng" nguyên mẫu từ các cháu tôi gặp ở Trường giáo dưỡng vị thành niên phạm pháp Xuân An...Chất liệu từ cuộc sống thật qua hư cấu nghệ thuật ùa vào tác phẩm, tình tiết dư thừa tha hồ lựa chọn, cảm xúc luôn dào dạt, không gian yên tĩnh, tiện nghi đầy đủ, viết rất say, rất sướng. Bản thảo xong, ít gạch xóa, hầu như chỉ tu chỉnh ngôn ngữ cho chuẩn, tôi gửi đến Nhà xuất bản Công an nhân dân, được Ban biên tập chấp nhận và mấy tháng sau ấn hành. Sau đó Nhà xuất bản Thanh Niên tái bản lần một, lần hai. Rồi Điện ảnh Công an nhân dân yêu cầu tôi chuyển thể sang kịch bản: "Đứa con kẻ tử thù" làm phim nhựa màu Quốc Long đạo diễn với sự tham gia của Quang Tùng, Đoàn Dũng, Hà Xuyên... và các nghệ sĩ ưu tú khác.
 Tôi thấm thía chỉ khi nào chủ đề được nghiền ngẫm, hình thành rõ, chỉ khi nào hiểu kỹ, hiểu sâu cuộc sống mà chủ đề ấy đặt ra bằng những chuyến thực tế dài ngày, say sưa, tâm huyết thì hãy viết, viết mới thành công. Nếu không, hoặc thất bại, hoặc đó chỉ là những trang chữ phản ánh cuộc sống giả, nhân vật giả, cảm xúc giả.
 Mà văn chương lại không chấp nhận cái giả.
 
*
*   *
 
Lịch sử chống ngoại xâm của nước ta hầu hết đều được thực hiện bằng chiến tranh nhân dân, trong đó tuổi nhỏ đóng góp rất lớn. Gương lẫm liệt của Trần Quốc Toản, Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Tám, Kim Đồng, Nguyễn Bá Ngọc. Tháng 12 năm 1944, ngay sau khi "Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân" ra đời đã chọn đồn Phay Khắt làm mục tiêu tấn công. Nhiệm vụ phải chiến thắng để phát huy thanh thế quân đội cách mạng. Muốn vậy việc trinh sát cần tiến hành rất bí mật, cụ thể, chính xác, nắm chắc cách bố phòng, quy luật hoạt động và sinh hoạt hàng ngày của địch. Nghĩa là phải đột nhập được vào đồn. Đó là việc rất khó khăn. Cuối cùng người được chọn làm chiến sĩ trinh sát đầu tiên, chuẩn bị cho trận đánh đầu tiên, đem lại chiến thắng vang dội đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam là một thiếu niên tên là Hồng. Hồng mới mười hai tuổi. Ngày ngày em phải mang bánh và rượu vào cho tên quan Tây trong đồn. Em đã lân la trò chuyện với lính địch, biết rất rõ nơi ăn, nơi ngủ, kho lương, kho vũ khí, giờ giấc, nơi canh gác, quân số, nề nếp thói quen sinh hoạt...của chúng. Ban đêm em trốn ra báo cáo tường tận với các chú bộ đội. Căn cứ vào những tài liệu em Hồng cung cấp kết hợp với những thông tin khác bộ đội ta đã cải trang thành lính dõng và lính tập để đột nhập đồn giặc rồi bất ngờ tấn công khiến địch không kịp đối phó. Đồn Phay Khắt bị tiêu diệt. Đó là chiến thắng vô cùng quan trọng đối với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta mà công lao không nhỏ là từ một cháu thiếu niên...Không ít sách đã viết về tuổi nhỏ chí lớn, dũng cảm kiên cường và mưu trí chống Pháp như: "Đội du kích thiếu niên Đình Bảng" của Xuân Sách, "Tuổi thơ dữ dội" của Phùng Quán...Cho đối tượng thiếu nhi, mấy năm trước, sau những chuyến thực tế dài đến đảo Cồn Lu, Cồn Ngạn (ngoài cửa bể Ba Lạt), các đảo ở Hạ Long, Bái Tử Long, nhất là Đảo Khỉ (ở Quảng Ninh) về, tôi viết cuốn tiểu thuyết "Đảo vàng" (Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành, tái bản hai lần) chủ đề giáo dục các cháu tình yêu giang sơn đất nước là chính, mặc dù bối cảnh là cuộc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc. Nay tôi muốn viết về lòng yêu nước của thiếu niên miền Nam được thể hiện trực tiếp qua hành động dũng cảm, mưu trí chiến đấu với kẻ thù xâm lược. Từ ý định ấy tôi thu xếp vào lại "Chiến khu Ô Rô" mà trước đó tôi đã đến nhưng không có điều kiện ở lâu. "Chiến khu Ô Rô" nằm trên đất Hàm Thuận Bắc tỉnh Bình Thuận, vùng chiến sự rất ác liệt. Trung tâm chiến khu là rừng ô rô, cây cao mọc dầy trên cát trắng, bao bọc bởi nhiều dãy núi hiểm trở. Khí hậu khắc nghiệt, nắng như thiêu, nước rất hiếm, có người gục chết bên gốc cây vì khát. Mùa khô cả vùng chỉ còn một hốc đá lõm sâu đón dòng nước nhỏ từ trong núi chảy ra. Cuộc chiến đấu vì nguồn nước vô cùng gay go. Địch bò đến ta bắn. Ta bò đến địch bắn. Xác chết chồng lên nhau. Nước bị ô nhiễm nặng. Cuối cùng bọn ngụy thả thuốc độc xuống. Đan xen và bao bọc cả vùng chiến khu còn hệ thống ấp chiến lược do địch lập ra. Mỗi ấp có ấp trưởng, hai ấp phó. Dưới ấp là Khu, có khu trưởng. Dưới khu là Liên Gia gồm từ năm đến mười gia đình có liên gia trưởng. Bộ máy quản lý rất chặt. Về quân sự có đồn bốt. Mỗi ấp có một trung đội dân vệ, ngoài ra còn bảo an quân thuộc tỉnh chỉ huy. Tất cả đều được trang bị vũ khí: súng trường, tiểu liên, trung liên, lựu đạn... Chúng bắt dân đào hào quanh ấp. Tiếp đến từng lớp dây kẽm gai. Chỉ để hai cổng. Mọi người ra vào đều bị kiểm soát. Số gia đình có người tham gia cách mạng nó gom lại thành cụm có đánh dấu đỏ trên mái tôn. Chúng giám sát chặt, động là sả súng vào đó. Nó bắt những người này gác cổng cùng với chúng để làm bia đỡ đạn nếu du kích của ta từ trong núi, hoặc từ rừng ô rô về đột ấp. Bà con mình bị kìm kẹp vô cùng khổ. Cơ sở bí mật của ta ít, yếu, hoạt động rất khó. Ấp Bình Lâm do anh Năm Bì làm ấp trưởng, nhưng lại là tổ trưởng Đảng của ta. Năm 1963 lộ, anh bị chúng bắt đầy đi Côn Đảo và tiến hành điều tra đàn áp. Lực lượng bên ngoài cũng rất mỏng. Lấy vùng núi Cà Tang và rừng ô rô làm căn cứ. Ban đêm bí mật đột ấp nắm tình hình, vận động quần chúng và thu gom lương thực, thực phẩm, thuốc men...Việc đó rất nguy hiểm và ít hiệu quả, đặc biệt từ khi tên Bảy Búa ác ôn khét tiếng về làm ấp trưởng.
 Bọn địch kiểm tra giám sát rất chặt, nhưng chủ yếu với người lớn, con nít chúng ít quan tâm. Các cháu vẫn ngày ngày lùa trâu bò lên núi chăn dắt và kiếm củi, la cà chơi đùa với bọn bảo an, dân vệ. Tẩm quất, gãi lưng, lấy nước cho bọn chúng tắm, mua rượu và kiếm mồi về cho bọn chúng nhậu, cặp kè để bọn chúng sai vặt. Sau này khi bọn Mỹ vào cũng thế. Lợi dụng sơ hở đó ta giác ngộ các cháu và "Đội du kích thiếu niên tình báo" bí mật được thành lập do em Nguyễn Thanh Hùng làm đội trưởng. Đội viên ban đầu gồm có Cưu "còi", Bé, Cách, Ngư, Trung, Bảy, Mật, Xăm, Tám sau phát triển dần Rác, Lem, On, Nam, Rí...Linh hồn của đội là chị Tám Tiệm bí thư chi bộ nằm vùng. Chị Tám nổi tiếng kiên cường bất khuất. Bị địch bắt chúng dùng mọi cực hình tra tấn không khuất phục được. Sáu lần chúng dùng dao chặt dần từng đoạn cả hai chân của chị, cũng không khuất phục được. Chúng thả chị về ấp, vẫn giám sát chặt, nhưng chúng nghĩ "cụt hai giò ngồi một chỗ thì con Tám làm chi được". Chúng đâu ngờ ngồi một chỗ mà tai mắt chị ở khắp nơi, ngồi một chỗ mà chị vẫn cùng với Hùng và các em trong đội lập mưu cao kế sâu. Cuộc đấu trí, đấu lực vừa bí mật vừa công khai hợp pháp giữa một bên là những tên ác ôn khét tiếng như Bảy Búa cùng lũ bảo an dân vệ phản quốc và một bên là các cháu chăn trâu dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng bí mật diễn ra vô cùng gay cấn. Bằng sức mạnh của lòng căm thù, bằng trí thông minh tuyệt vời, bằng tinh thần dũng cảm bất khuất các cháu khiến kẻ thù điên đầu mà không làm gì được.Các cháu vẫn thường xuyên tiếp cận được với cán bộ, chiến sĩ của ta trên căn cứ Cà Tang và rừng ô rô, cung cấp thông tin, tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men, quần áo. Dẫn đường mỗi khi quân ta từ căn cứ về đột ấp.Tự tổ chức hoặc phối hợp tổ chức những trận đánh bất ngờ ly kỳ như thần thoại. Cấp trên hết lời khen ngợi và mệnh danh là "Những sư tử non vùng Chiến khu ô rô".
 Ý tưởng viết về vai trò các cháu thiếu niên miền Nam trong chống Mỹ cứu nước mà lại được xâm nhập thực tế đúng địa bàn như thế, nơi có "Đội du kích thiếu niên tình báo" hoạt động tài tình như thế, chiến công vang dội như thế, các nguyên mẫu nhân vật cả phía ta, phía địch hấp dẫn như thế, tình huống, tình tiết ly kỳ như thế...
 Đối với tôi đó lại là may mắn.
 Tôi bám riết và cố tìm hiểu thật kỹ, thật sâu về vùng đất, về con người và cuộc chiến diễn ra ở đây. Từ anh Năm Bì, chị Tám Tiệm, em Thanh Hùng và các em trong "Đội du kích thiếu niên tình báo" cho đến các đồng chí đã từng lãnh đạo hoặc tham gia chiến đấu cùng những gia đình cơ sở bí mật ở vùng ấy như anh Sáu Minh, Bảy Long, Tám Kề, Tám Tường, Tư Tùng, Tư Muối, chị Suốt, má Phương, bà Tư Tàm... với tôi đều thân thiết.
 Cảm thấy đã đủ chín, trở về Hà Nội tôi làm ngay đề cương tiểu thuyết "Những sư tử non". Chỉ khoảng hơn mười ngày là xong và sẵn sàng bắt tay vào viết.
 Lần này tôi không "trốn" đi đâu, ngồi ngay ở "căn phòng nhỏ" mà đã gần ba chục năm đời tôi gắn bó.
 "Căn phòng nhỏ" ấy đã ghi dấu ấn rất nhiều bạn văn chương, mà bây giờ mỗi khi nhớ đến họ những kỷ niệm lại hiện về...
 Khoảng cuối năm 1987 nhà thơ Hữu Loan từ Nga Sơn, Thanh Hoá đưa con gái tên là Định ra học Trường cao đẳng Mỹ thuật và gửi gắm họa sĩ Vũ Giáng Hương, người phụ nữ tài hoa xinh đẹp đã một thời là bạn tâm giao với Hữu Loan nhờ giúp đỡ kèm cặp. Ông ở chơi mấy tuần lễ với nhà thơ Tú Sót cùng số nhà với tôi và cả hai thường sang phòng tôi đàm đạo. Từ khi chưa gặp tôi đã biết danh ông qua bài thơ "Màu tím hoa sim" nổi tiếng và được nghe kể nhiều về ông nên rất dễ thân tình. Tóc dài bạc quá nửa vuốt ngược về phía sau, râu cũng để dài bạc quá nửa, mắt sáng, gầy, quắc thước, khoẻ, nhanh nhẹn, giọng sang sảng đặc chất Thanh Hoá, ông vui tính, sôi nổi. Xong tú tài Hữu Loan đi dạy học, tham gia cách mạng giành chính quyền, vào bộ đội, đi chiến đấu, làm "Báo Chiến sĩ", rồi "Báo Văn nghệ", viết rất khoẻ. Ông kể với tôi bài "Màu tím hoa sim" là lời ông khóc vợ. Người vợ tên là Ninh, con nhà giầu ở thành phố Thanh Hoá, mặc tân thời, răng trắng, "nàng có ba người anh đi bộ đội" (trong bài "Màu tím hoa sim”) nhưng họ đều không tán thành cuộc hôn nhân này vì không "môn đăng hộ đối". Khi lấy Hữu Loan nàng mới tròn mười bẩy tuổi, rất yêu chồng và hiếu thảo với mẹ chồng. Bà cụ ở quê, mặc váy nơm vải thô, áo vá, thường khi thay cứ ngâm ở cầu ao được ghép bằng những đoạn tre, đi làm về mới giặt rồi phơi lên sào, trên dậu, hoặc dây mây. Nàng giặt áo cho mẹ. Bà cụ ăn trầu, rụng răng phải dùng cối giằm. Nàng nhai trầu cho mẹ. Cưới được năm ngày Hữu Loan phải đi chiến đấu. Mấy tháng sau về thì vợ đã chết. Nàng chết đuối dưới làn nước lạnh. Hữu Loan vô cùng đau đớn ra gục bên mộ vợ và tối ấy về viết bài thơ "Màu tím hoa sim". Ông nói đó là nỗi đau bất tử, tiếng khóc bất tử. Bài thơ sau này mới được phổ biến và mới nổi tiếng, chứ khi đó ông chỉ dám chép trong sổ tay. Một hôm tình cờ có anh bạn ở Văn nghệ khu bốn đọc được và đưa ra cuộc họp phê phán về tư tưởng uỷ mỵ tiểu tư sản. Kiểm điểm xong, một bạn làm thơ khác vỗ vai Hữu Loan: "Dù sao đó cũng là bài thơ rất hay". Rồi sau đó Hữu Loan bị gán vào tội "Nhân văn giai phẩm" phải kỷ luật. Khi đó ông đang đeo hàm trung tá, bất bình bỏ về quê, không thèm làm chế độ gì, đóng xe bò, phá đá núi, đập nhỏ chở đi bán kiếm sống và làm thơ. "Ba người anh đi bộ đội" của nàng tỏ ra coi thường, Hữu Loan tuyệt giao luôn. Hữu Loan thích uống rượu "cuốc lủi" nguyên chất nhâm nhi với lạc rang. Ông nói thời buổi bây giờ rượu Tây, rượu Tầu đủ loại, đủ mác không thiếu và kẻ nốc rượu cả chai đến say sỉn cũng không thiếu, nhưng gặp được người biết uống rượu lại có tâm hồn đồng điệu để tri âm, tri kỷ thật khó. Muốn uống rượu trước hết phải yêu rượu, hiểu rượu mà rượu cũng yêu mình, hiểu mình. Chọn rượu, kén rượu để uống cũng như chọn bạn, kén bạn để chơi. Không thể tuỳ tiện. Uống rượu là thú vui tao nhã và cao đạo tiêu biểu cho lối sống phóng khoáng, hoà đồng với thiên nhiên mang đặc trưng triết lý Lão Giáo như “Nhóm Thất hiền” đời nhà Tống (Trung Quốc). Họ có bẩy người, đều là nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà thư pháp lừng danh. "Thần tửu" trong nhóm là thi tài Lưu Linh. Ông đi khắp thiên hạ bằng một chiếc xe bò. Du ngoạn để tìm cảm xúc làm thơ. Ôm chặt trong lòng một túi thơ, một bầu rượu cùng người hầu luôn đem theo chiếc xẻng được lệnh chôn ông chủ tại chỗ khi ông chết kèm với bầu rượu, còn túi thơ thì lưu lại cho hậu thế.
 Thi nhân là vậy. Không phải uống rượu để say, mà mượn rượu để gọi hồn thơ. Nghe ông nói, tôi chợt nhớ tới cụ nho Tại, bạn tâm giao của bố tôi. Có lần trong hơi men lâng lâng cụ ngân nga:
"Hễ rượu lại ngâm thơ
Thơ chẳng ra thơ, làm tội rượu
Một mình thêm nhớ bạn
Bạn đâu có bạn lại như mình"
 Khi ấy tôi còn nhỏ, chỉ nhớ, rồi thuộc chứ không hiểu. Sau này mới ngẫm ra được cái sâu xa của ý tứ. "Hễ rượu lại ngâm thơ" - thi nhân mượn rượu gọi hồn thơ, khác tiểu nhân uống rượu giải sầu. "Thơ chẳng ra thơ làm tội rượu" - tưởng cụ khiêm tốn tự chê thơ mình, nhưng không, cụ chê thơ thiên hạ. "Một mình thêm nhớ bạn" - tưởng cụ nhiều cố hữu, nhưng không, "bạn đâu có bạn lại như mình" - cụ cô đơn, không có bạn, bởi không tìm đâu ra tri âm tri kỷ. Chỉ bốn câu thơ về rượu thôi mà nói được cả tâm trạng, cả thế sự, vừa khiêm nhường, vừa cao ngạo.
 Tôi nhìn sang nhà thơ Tú Sót và bỗng nhớ tới hai câu của ông đề tặng bức tranh "Lão say" của Bùi Xuân Phái vẽ một ông già say rượu, áo không cài khuy phô bộ ngực gầy giơ xương, quần buông lá tọa, ống thấp ống cao, tay chống gậy, tay cầm nậm rượu lảo đảo chân nam đá chân xiêu, ngất nga ngất ngưởng:
"Khắp thiên hạ đều say chổng chĩnh
Chỉ mình ta còn tỉnh mà thôi
Người ta yêu đã khuất rồi
Tìm đâu cho được bóng người ta yêu"
 Đọc thơ "Lão say" của ông mà nhớ tới Khuất Nguyên. Khuất Nguyên tên là Bình, tự Nguyên, xuất thân trong một gia đình vương tộc nước Sở, làm quan tới chức Tả đô đời Sở Hoài vương. Khuất Nguyên tài cao, chí lớn nhân cách cao thượng, tâm hồn trong sạch, một lòng vì nước, vì dân khác hẳn bọn tiểu nhân xu nịnh. Sở Hoài vương đam mê tửu sắc uống rượu triền miên say đến nỗi quên cả năm tháng, ngày đêm. Hỏi những người xung quanh nhưng ai cũng sợ, nói không biết. Vua quay hỏi Cơ Tử. Cơ Tử nghĩ: "Làm chủ thiên hạ mà đến năm tháng, ngày đêm cũng không hay thì xã tắc nguy rồi. Nhưng mọi người nói không biết, chỉ mình ta nói biết thì ta cũng nguy mất thôi" nên cũng giả say nói không biết. Riêng Khuất Nguyên khác. Ông không say, cũng không giả say, dám lên tiếng khuyên nhà vua bỏ rượu, bớt hiếu sắc lo việc quốc gia đại sự. Sở Hoài vương không nghe. Cũng vì lời can gián đó mà Khuất Nguyên bị bãi chức, bị đi đầy. Uất hận quá ông trút lòng mình vào bài thơ "Ly tao" bất hủ phẫn nộ chỉ chích những thối nát bất công của xã hội đương thời. Vì thế ông càng bị dồn đến bước đường cùng. Thể hiện khí phách và để bảo vệ lương tâm cao cả ông gieo mình xuống dòng nước trong vắt của sông Mịch La tự vẫn. .
 Hữu Loan nhẩn nha uống rượu. Ông ngồi bệt trên chiếu, kéo ống quần nâu rộng thùng thình lên quá gối, khoác hờ cái áo bông bọc vải xanh trên vai, mỗi lần tợp một ngụm rượu gật gù lim rim mắt rồi lại ngâm thơ, giọng rất ấm, rất hay. Có được nghe ông ngâm trong lâng lâng hơi men mới xúc động, mới cảm nhận hết được cái hồn thơ của ông. Hồn thơ như bốc lửa, mạnh mẽ, dữ dội, tứ thơ táo bạo, hình tượng vững vàng sừng sững như núi và trên vách cao dựng đứng cheo leo ấy là cây, là hoa, là trái, là hương thơm, là ong bướm, là tiếng kêu của dã thú. Thơ ông mê sắc mà không dâm, oán thán mà không loạn. Chí ông cao, tâm ông sạch, viết ngắn mà tình dài, nghĩa rộng, triết lý sâu xa. Ông đọc trường ca ca ngợi tướng Nguyễn Sơn. Hữu Loan sùng bái Nguyễn Sơn. Sùng bái bởi Nguyễn Sơn không chỉ là lưỡng quốc tướng quân mà còn ở khí phách người anh hùng ngang tàng, mạnh mẽ, dữ dội, chết không sợ và không bao giờ chịu luồn cúi. Ông kể một lần Nguyễn Sơn đeo kiếm ngênh ngang đi giữa chợ, có người không biết bảo: "Cứ như ông tướng ấy". Nguyễn Sơn quay lại cười: "Thì chính hắn là tướng đấy". Hữu Loan vỗ tay đôm đốp, rồi lại uống rượu, lại đọc thơ...Được ngồi với ông, nhìn cốt cách, hiểu tư chất và được nghe ông ngâm thơ thật là những phút giây đáng quý, đáng nhớ và tôi rất ngưỡng mộ ông.
 Một hôm nhà văn Sao Mai, hồi ấy đang là Chủ tịch Hội Văn nghệ Vĩnh Phú (cái chức mà có lần anh cười khà khà bảo tôi: "Bọn trẻ đánh đấm nhau không đứa nào chịu đứa nào, thế là chúng nó bầu bắt tao phải làm, chứ tao thiết đếch gì cái trò danh hão quyền rơm vạ đá này. Chỉ là bõ già coi chuông nhà thờ thôi") từ Việt Trì xuống. Không vào nhà, đứng ngoài cửa đưa tôi can rượu mơ tự chế năm lít: "Tối nay tao ngủ với cậu". "Sáu giờ chiều anh nhớ về ăn cơm". "Có thằng mời rồi", nói xong quay ngoắt ra cổng. Tôi nhìn theo. Tuổi gần bẩy mươi, cao lòng khòng, gầy và khoẻ, răng chắc, mắt long lanh, tóc chỉ muối tiêu, xoăn tự nhiên, sơ mi cháo lòng bỏ trong quần phăng xanh rất gọn gàng. Khác Hữu Loan không để râu, nhưng giống trong tim luôn bốc lửa, cũng bị quy kết là "Nhân văn giai phẩm" bởi cuốn tiểu thuyết "Thôn Bầu thắc mắc", số phận cũng long đong chìm nổi khốn khổ, phải về lánh nạn ở quê vợ tại Làng Nhuộng, xã Yên Trung, huyện Ý Yên, Nam Định, đi đánh dậm, câu cá và vẫn viết văn, viết cả kịch bản chèo cho đội văn nghệ xã. Một cô diễn viên xinh đẹp rất mê tác giả và tác giả cũng không từ chối. Khốn nỗi người đẹp lại là em gái bà xã anh. Ấy thế rồi không biết anh thuyết phục bằng cách nào mà..."tre tốt đánh cả cụm". Cũng may hồi đó chưa có "Luật hôn nhân và gia đình" và theo cách nói của anh là "triệt để khai thác công suất". Kết quả có mười hai con và ba mươi sáu cháu. Đại gia đình vỡ đất khai hoang làm chủ một trang trại lớn mãi huyện Thanh Sơn. Từ khi "phải" làm Chủ tịch Hội Văn nghệ anh cũng "phải" một mình về Việt Trì ở trong một gian của trụ sở hội. Tránh được sự giám sát kiềm kẹp của hai "cảnh sát trưởng", tận hưởng cuộc sống độc thân, tha hồ vi vu chẳng ai quản lý. Một lần đến kiểm tra sức khoẻ ở bệnh viện tỉnh, anh quen một cô y sĩ tuổi đã ngoài bốn mươi nhưng mũm mĩm, nõn nà "rực rỡ như bông hoa rừng" – anh bảo thế - lấy chồng miền Nam tập kết, được hai con trai. Sau giải phóng chồng về Nam, rồi "bùng", bặt tin luôn. Cũng chẳng biết bằng cách nào mà mấy tháng sau "bông hoa rừng" ấy đã biến nhà văn già Sao Mai thành chàng trai dũng mãnh. Lần trước đem bản thảo tiểu thuyết "Mắt chim le" về nhờ tôi biên tập anh say sưa kể: "Cô ấy yêu tao say đắm chú mày ạ. Mà rất thẳng thắn. Nàng bảo: "Em chưa già, mà cũng chẳng còn trẻ. Đi bước nữa thì con em khổ, mà em cũng khổ. Em muốn làm bạn với anh, mong anh là chỗ dựa tinh thần cho mẹ con em". Tôi cười: "Cô ấy nói thế là khôn. Này, nhưng hai bà chị có biết không đấy?". "Biết thế quái nào được". Nên mừng hay nên lo cho ông anh đây? Lần này xuống chắc vì bản thảo “Mắt chim le”. Tôi định tối hôm ấy sẽ trao đổi kỹ với anh. Nhưng mới hơn ba giờ chiều đã thấy anh đến, vẫn đứng ngoài cửa: "Cậu cho tao ra ga. Nửa giờ nữa tầu chạy". "Anh đi đâu?". "Về Việt Trì. Tao nhớ cô ấy quá". "Còn chuyện bản tháo "Mắt chim le" thì sao?". "Cứ để đấy, tháng sau tao xuống sẽ bàn". Thất thập cổ lai hy rồi mà vẫn còn bốc lửa thế. Xin bái lạy sư phụ.
 Tôi đưa "sư phụ" ra ga, quay về đã thấy nhà văn Chu Văn đang chờ trước cửa. Anh Sao Mai ào ào vui vẻ, anh Chu Văn trái lại nho nhã, điềm đạm. Biết tính anh, tôi lấy trà ngon, đun nước sôi già, tráng ấm chén thật kỹ, pha đúng quy cách, rót ra chén tống rồi mới san sang chén quân. Thong thả thưởng thức hết chén trà thứ ba, vẻ hài lòng, anh mới mở chiếc cặp giả da màu đen lấy ra hai tập bản thảo khá dầy, đánh máy trên giấy pơ-luya mỏng được đóng bìa chắc chắn (tính anh vốn cẩn thận) đủng đỉnh nói: "Chú đừng tự ái. Trước khi giao bản thảo này cho chú anh đã đưa nó tới ba nơi. Hai nhà xuất bản cũng to khoẻ như Nhà xuất bản Thanh Niên của chú, nhưng đọc xong, họ "ngại" không muốn in vì gai góc quá. Cả hai đều băn khoăn về nhân vật Xoan của anh. Họ gửi trả lại kèm bức thư viết rất khéo, dù tác giả khó tính đến đâu cũng không thể mếch lòng. Anh có kẹp trong đó chú xem cho biết. Còn nhà xuất bản thứ ba thì anh chủ động rút bản thảo về vì biên tập viên tỏ thái độ cửa quyền". Anh lắc đầu: "Đời buồn quá chú ạ. Con người ta khi nắm trong tay chút quyền là nghĩ ngay đến chuyện hành. Văn chương mà thế thì còn gì là văn chương nữa. Người làm văn chương mà thế thì không buồn sao được phải không chú?".
 Đó là bản thảo tiểu thuyết "Sao đổi ngôi". Tôi đặt ngay ngắn lên bàn: "Cảm ơn anh đã tin cậy giao cho em. Ba tuần nữa, kể từ hôm nay, em về Nam Định, anh em mình sẽ trao đổi cụ thể bản thảo này".
 Đúng hẹn, về Nam Định, tôi đến căn hộ tầng một trong khu tập thể ở phố Hàn Thuyên. Hai anh em ngồi đối diện trên ghế sa-lon đóng bằng gỗ tiết kiệm. Điện phập phù lúc có lúc mất. Trên bàn viết của anh đặt một bình ắc-quy thắp bóng 12 von cạnh chiếc radio cổ lỗ, đối diện là tủ sách đồ sộ. Anh pha trà rất cầu kỳ. Chị xách làn đi chợ: "Trưa nay chú phải ở lại ăn cơm với anh chị". Tất nhiên tôi không dám từ chối. Hai anh em bàn đến bản thảo "Sao đổi ngôi". Tôi đề nghị anh bỏ cả ba chương đầu, rồi thay đổi kết cấu, cốt truyện, chi tiết này cần bổ sung, tính cách nhân vật kia cần thay đổi và hoàn chỉnh, cho tới từ ngữ, câu cú... Chúng tôi tranh luận rất hăng. Anh có cái lý của người sáng tác. Tôi có cái lý của người biên tập. Không dễ dàng nhân nhượng. Có điều anh cư xử rất bình đẳng, rất tôn trọng lắng nghe ý kiến của tôi. Say sưa đến nỗi chị đã bưng mâm đặt lên bàn. Đặc biệt có món ba ba nấu chuối xanh rất hấp dẫn, vậy mà mãi khi chị phải sẵng giọng: "Anh em chú định tuyệt thực chắc?". Bấy giờ chúng tôi mới tạm nghỉ, cầm đũa, tấm tắc khen ngon.
 Cuộc tranh luận diễn ra không chỉ ngày hôm ấy mà cả sáng hôm sau. Cuối cùng sau một lúc đăm chiêu, anh xoa xoa tay lên trán mấy lần rồi khẽ gật đầu: "Anh thấy chú có lý. Nhưng cắt đi tính ra ngót trăm trang, sửa chữa viết lại nhiều chỗ như thế xót lắm đấy, vất vả lắm đấy. Anh rất mừng vì thấy chú trưởng thành, cứng cáp trong nghề nghiệp nhanh như thế. Hậu sinh khả uý, anh vui lắm". Hồi đó cách nhìn nhận đánh giá văn học nhiều người còn khắt khe và nông cạn lắm. Đã có những tác phẩm bị đánh lên đánh xuống vì các lý do hết sức vớ vẩn. Bởi thế tôi nói: “Anh em mình cũng nên lường trước, nếu "Sao đổi ngôi" bị thổi còi thì cũng ngại cho mấy cái chức của anh lắm đấy. Chủ tịch Hội văn nghệ tỉnh, chấp hành Hội nhà văn Việt Nam lại đại biểu Quốc hội. Bay mất liệu có tiếc?". Rít hơi thuốc thật sâu, lặng lẽ nhả khói, anh nhếc mép cười: "Cám ơn chú biết lo cho anh. Nhưng đời anh sống bằng tác phẩm chứ đâu bằng chức vụ. Người ta có hai thứ chứcdanh dễ làm liên lụy đến nhân cách. Trong hai thứ đó danh là bất biến, chức là phù hoa khả biến. Giữ sao cho cái danh trọn vẹn khó lắm, nhưng lại là đích, là tâm".
 Đến tận nhà tác giả trao đổi về bản thảo như trường hợp anh Chu Văn là rất hãn hữu. Phần với anh tôi vốn có quan hệ thân thiết đặc biệt, mặt khác tôi muốn kết hợp về thăm vợ con và gia đình cũng sinh sống ở thành phố Nam Định. Tuy nhiên cũng có trường hợp hãn hữu kiểu khác, như với Lê Lựu. Chẳng hiểu vì nguyên nhân gì nhà văn bị vợ "cấm phòng" phải ôm chăn màn đến bàn làm việc ở Tạp chí Văn nghệ quân đội ngủ. Biết tin, tôi điện: "Đến đây tớ nấu cơm cho ăn và ngồi viết cho xong cuốn "Chiến sĩ đồng bằng đi". Lê Lựu đến. Chúng tôi bàn bạc thống nhất đề cương và Lê Lựu cặm cụi ngồi viết. Hoặc Lê Thấu, cũng vênh váo làm phách với vợ mang chăn màn đến phòng làm việc ở Báo Nhân dân ngủ. Biết tin, tôi điện: "Đến đây tớ nấu cơm cho ăn rồi sửa cho xong tập bản thảo "Mặt trời xanh lá cây đi". Lê Thấu đến. Bàn bạc thống nhất với tôi rồi cặm cụi sửa. Thời bao cấp "gạo châu củi quế" lấy gì nuôi lâu được. Chỉ tuần lễ là tìm cách trả bọn chúng về với vợ. Lý lẽ rất đơn giản: "Tao rất muốn vợ mắng mà không được. Chúng mày được vợ chiều quá hoá rồ. Liệu bỏ nhà đi mãi được không? Khôn ngoan nhất là về xin lỗi rồi tìm cách lập công chuộc tội". Ngoài ra hầu hết các tác giả đều đến "căn phòng nhỏ" của tôi mỗi khi cần trao đổi về đề cương hay bản thảo, như các nhà văn Xuân Cang, Hà Ân, Triệu Bôn, Hà Minh Tuân, Thép Mới, Mai Ngữ, Hoàng Văn Bổn, Vi Hồng, Nguyễn Hữu Nhàn, Lê Bầu, Vũ Bão và các nhà thơ Xuân Sách, Trần Lê Văn, Ngô Quân Miện, Lữ Giang, Quang Dũng, Phạm Lê Văn (Thợ Rèn), Thu Bồn, Tế Hanh, Phùng Quán...và nhiều anh em khác tuy không cộng tác viết cuốn sách nào cụ thể nhưng mỗi khi có dịp qua, ghé vào chơi, pha ấm trà trò chuyện một lát, lại đi như Đào Thắng, Tô Đức Chiêu, Văn Linh, Trịnh Thanh Sơn, Nghiêm Đa Văn, Bùi Bình Thi, Tạ Vũ, Trần Huy Quang, Hoàng Quốc Hải, Vũ Từ Trang, Trần Nhật Lam, Vương Tùng Cương…
 Không chỉ dân văn nghệ mà cả quan chức như các bác Lê Giản, Học Phi, Vũ Quốc Uy, Nguyễn Luân, các anh Nguyễn Văn An, Phan Ngọc Tường, Lê Văn Sang, Phạm Tâm Long, Dương Thông, Lê Thế Tiệm, Trần Thảo, Trịnh Kiệm, Đỗ Quang Trung, Lê Ngọc Hoàn, Nguyễn Mạnh Kiểm, Nguyễn Hồng Quân, Vũ Ngọc Thi, Hoàng Văn Nghiên, Đinh Thế Huynh, Nguyễn Quốc Triệu, Ngô Thị Thanh Hằng, Nguyễn Lân, Trần Minh Ngọc, Nguyễn Quốc Mậu, Nguyễn Văn Đậu, Nguyễn Khắc Hưng, Vũ Văn Luật, Nguyễn Anh Thư, Đỗ Khuê, Đỗ Hoàng Ân, Vũ Đức Bảo, Hoàng Công Khôi, Đặnh Vũ Thăng, Trần Thế Vượng, Mai Xuân Tích, Vũ Văn Hoá, Vũ Đức Hưởng.... cũng thường đến chơi đàm đạo chuyện nhân tình, thế sự.
 Không chỉ chính khách, quan chức mà các doanh nhân thành đạt lấy đạo nghĩa làm trọng như Vũ Đức Tuấn, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Duy Kiểm, Nguyễn Trần Nam, Nguyễn Thụ, Trần Hùng, Phụng Hoàng, Quang Huy, Trần Đình Thể, Lương Quốc Dũng, Vũ Huy Hùng, Trần Văn Sơn, Đào Ngọc Nam, Lê Thanh Thiêm, Nguyễn Đoàn Dũng, Lương Hùng, Đào Văn Bình, Phan Minh, Đào Ngọc Nam, Phạm Trung Tuyến, Trần Mạnh Quảng, Lưu Xuân Tình ... cũng ghé thăm.
 Thương nhà văn nghèo sống quá thiếu thốn, chật chội chú Vũ Đức Tuấn bỏ tiền thuê thợ đến sửa lại "căn phòng nhỏ" ấy. Thay mái ngói đã ải mục xô vỡ động mưa là dột bằng mái tôn, trần gỗ dán; tường trát xi-măng cát, lăn sơn thay cho vách ngăn bằng cót ép. Đóng lại giá sách, lắp máy điều hoà không khí, đặt đường ống dẫn nước vào tận nơi. Chú Nguyễn Trần Nam cho người đem bình nóng lạnh đến lắp...Chỉ hơn mười thước vuông thôi mà có bàn thờ gia tiên, tủ đứng đựng quần áo, giá sách, bàn làm việc, bàn tiếp khách, giường ngủ, gác xép chứa đồ và có thể tắm giặt ngay trong phòng. Một lần kiến trúc sư trưởng thành phố Nguyễn Lân đến chơi, ngắm nghía rồi gật đầu: "Không thể bố trí hợp lý hơn". Thương tôi suốt đêm gõ tanh tách trên phím chiếc máy chữ cà cộ khiến hàng xóm mất ngủ chú Lương Quốc Dũng mua tặng bộ vi tính. Biết sách in ra nhà văn chỉ được hưởng nhuận bút bằng mười phần trăm giá bán, ít quá, không đủ tiền mua sách tặng bạn bè, một số doanh nhân cảm thông tài trợ bằng cách mua dăm chục hoặc trăm cuốn cho đơn vị mình. Anh Hoàng Văn Nghiên có tháng vừa lĩnh lương xong cho hết vào phong bì đem đến đưa cả cho tôi. Anh Nguyễn Hiệp thỉnh thoảng lại đặt lên bàn tôi cũng chiếc phong bì với dòng chữ nắn nót rất đẹp: "Thân tặng anh Đắc Trung". Còn nhiều tấm lòng ưu ái khác đã dành cho tôi. Đó là những giúp đỡ rất chân thành và rất trân trọng khiến tôi không thể từ chối và cũng nhờ thế mà tôi có thêm điều kiện để chuyên tâm cho việc sáng tác.
 Tiền nhân dạy: "Lộc bất tận hưởng". Tận hưởng sẽ triệt lộc. Bởi thế tôi cũng luôn sẵn lòng giúp người khác. Có lần một phạm nhân mà trước đó mấy năm tôi tiếp xúc ở trại Ba Sao mới mãn hạn ra tù. Về nhà được mươi ngày thì bố chết. Gia cảnh khó khăn quá. Anh tìm đến gặp tôi mục đích nhờ tôi thảo mấy dòng "tin buồn" để thông báo cho họ hàng và người thân. Tôi làm ngay và không ngần ngại giúp anh tiền để lo mai táng cho ông cụ. Anh cảm động ôm lấy tôi khóc, tôi cũng khóc. Rồi sau này chúng tôi thân nhau và những thăng trầm, chìm nổi của cuộc đời anh đã trở thành chất liệu cho số phận nhân vật trong tiểu thuyết của tôi.
 Tôi lại nghĩ đến lời bố dạy: "Thù oán lớn mấy cũng nên quên. Nhưng ân nghĩa dù nhỏ cũng phải nhớ" và thấm câu thành ngữ: "Của cho là của được". Cái được ấy chính là phước đức.
 Không chỉ giới văn nghệ, chính khách, quan chức, doanh nhân mà cả những người thợ xây dựng, những bác nông dân, những chiến sĩ công an, bộ đội mà tôi thân thiết gắn bó trong các chuyến đi "nằm vùng" thực tế, cả những bạn làm nghề "xe ôm", đạp xích-lô mà tôi quen biết khi giả trang đi làm cùng với họ để có tài liệu viết phóng sự, cả những phạm nhân mà tôi có dịp tiếp xúc trong các trại giam do cải tạo tốt được ân xá hoàn lương tìm đến thăm...
 Cánh cửa "căn phòng nhỏ" của tôi cũng như tấm lòng tôi luôn rộng mở để đón tiếp tất cả với với sự mộc mạc chân tình không hề phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo, sang hèn miễn là họ đến với tôi bằng tâm sáng lòng rộng.
 Nghĩ mình chức tước không, quyền lực không, tiền bạc cũng không chỉ có trái tim và cây bút mà sao được bầu bạn thương quý? Phải chăng bố tôi nói đúng "văn chương là nghề cao quý". Cao quý bởi bản chất và mục đích của nó là hướng thiện. Điều đó khiến tôi càng yên tâm, càng yêu, càng say và nguyện suốt đời dấn thân vào cái Nghiệp văn chương mà mình đã chọn.
 Có được sự ưu ái của những người thuộc nhiều tầng lớp như thế tôi cho rằng đó cũng là may mắn đối với tôi và tôi rất biết ơn họ.
 Một lần, mùa đông, rét lắm. Khoảng hơn hai giờ khuya, có tiếng đập cửa. Tôi dậy: "Ai đấy?". "Nguyễn Trọng Tạo đây, anh cho tôi ngủ với". Chà, Nguyễn Trọng Tạo, anh chàng đa tài và đa tình này, hồi ấy từ Quân khu bốn ra học Khoá một Trường viết văn Nguyễn Du. Tạo vào nhà, vẻ phờ phạc, một con kiến rất to bò trên cổ áo len, loại kiến này thường chỉ ở bụi cây, bãi cỏ. Hắn cởi vội áo khoác ngoài, tháo giầy chui vào chăn rồi thiếp đi ngay. Lần khác, cũng quá nửa đêm, mùa đông, trời rất rét, có tiếng đập cửa. Tôi dậy: "Ai đấy?". "Đỗ Chu đây. Anh cho tôi vào ngủ với". Đỗ Chu, anh chàng bảnh trai, bẻm mép, viết truyện ngắn rất hay. "Hương cỏ mật", "Thung lũng cò" của hắn đọc rồi không thể quên. Bước vào, cởi caí áo bông tàng màu xanh treo vào mắc bên vách, hắn tháo đôi giầy da bò mốc thếch, khô cứng như gỗ rồi chui vào chăn. Tôi vừa nằm xuống vội bò dậy ngay, chân hắn thối như cóc chết, đành bật đèn ngồi làm việc và nghe hắn "kéo gỗ". Sáng hôm sau, đi ăn về, hắn cố tạo vẻ nghiêm túc: "Cám ơn anh đã cho tôi ngủ, lại mời ăn phở. Tôi xin biếu anh một chi tiết tôi chưa dùng để anh viết truyện". Cái chi tiết hắn biếu tôi thế này: một cô gái trẻ ở quê lặn lội hàng trăm cây số đến thăm chồng mới cưới là bộ đội đóng quân mãi gần biên giới. Doanh trại trên sườn đồi. Cô gái trình giấy tờ rồi ấp úng với đồng chí trực ban: "Em muốn gặp anh Tuấn ạ". "Ở đây có hai Tuấn. Tuấn "ngọng" và Tuấn "sẹo" cô muốn gặp Tuấn nào?". "Dạ, Tuấn nhà em có sẹo ở trán là do ngày còn bé cưỡi bò bị ngã ạ". "Thế thì nó là thằng Tuấn "sẹo". Đồng chí Tuấn đi công tác rồi". "Vậy...hôm nay anh ấy có về không ạ?". "Lên tiểu đoàn bắt lợn chứ đi đâu mà không về". Tối ấy đôi vợ chồng trẻ được nghỉ ở "Buồng hạnh phúc" trong dãy nhà khách của đơn vị. Hàn huyên đủ chuyện cũng đã khuya, anh chồng xem ra "máu" lắm rồi, nhưng cô vợ lại cứ bẽn lẽn e thẹn, cúi đầu mân mê gấu áo, tai mắt luôn băn khoăn với những tiếng ồn ào ở xung quanh. Sốt ruột, chồng kéo tay vợ. Vợ nhìn bóng điện bên vách: "Anh tắt đèn đi". Anh chồng ngồi thừ ra vẻ rất đăm chiêu khiến vợ lo lắng: "Sao vậy anh?". Chồng lắc đầu: “Không được đâu em ạ. Muốn tắt cái bóng đèn này anh phải đi báo cáo trực ban. Rồi trực ban báo cáo chỉ huy. Rồi chỉ huy phải có công văn cử người mang đến nhà máy điện. Rồi nhà máy điện mới cho công nhân đến. Rồi... Rồi... Như thế thì phiền phức quá, nhất là đêm hôm khuya khoắt không biết cấp trên có đồng ý không. Mà dẫu cấp trên có đồng ý thì từ giờ đến sáng chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa cũng chả làm kịp...”. Cô vợ ngây thơ đâu có biết Tuấn “sẹo” láu cá "bịp", đành cúi đầu ấp úng: "Thế thì để đèn cũng được". Đấy, hắn thanh toán với tôi phí dịch vụ phòng ngủ và bữa ăn sáng bằng mẩu chuyện hắn bịa ra như thế.
 Viết ra đây để các bạn thấy dân văn nghệ sống rất vui vẻ, vô tư, thoải mái và đối với nhau rất chân tình mộc mạc.
 Suy cho cùng làm xuất bản thực chất là khai thác chất xám từ các tầng lớp, nhất là giới trí thức và văn nghệ sĩ biến thành bản thảo, rồi từ bản tháo thành tác phẩm phát hành ra xã hội. Cho nên làm biên tập văn học trong nhà xuất bản mà quan hệ rộng, được đông đảo anh chị em trong giới sáng tác gần gũi, quý mến, tin cậy như thế thì đó cũng chính là may mắn đối với tôi.
 Do yêu cầu công tác tôi chuyển sang làm báo. Tờ "Tạp chí Thanh Niên" của chúng tôi ngoài một ấn phẩm chính luận còn các ấn phẩm văn nghệ, đặc biệt mảng văn học rất được quan tâm. Nghề làm báo đòi hỏi phải xông xáo, nhanh nhạy, sắc bén, bang giao rộng, nắm bắt tình hình, phân tích, lý giải, và dự báo kịp thời. Những điều ấy rất cần cho việc sáng tác văn học.
 Đối với tôi đó cũng là may mắn.
 Tuy nhiên một may mắn khác rất quan trọng đối với nghiệp văn chương của tôi là tôi có người vợ đảm, rất yêu chồng, cảm thông với khát vọng nghệ thuật của chồng, gánh vác việc nuôi dạy chăm sóc con cái. Tôi lại có bố mẹ và các anh, chị, em bên nội, bên ngoại thương quý, hết lòng giúp đỡ vợ con tôi kể cả những lúc khó khăn nhất. Nhờ thế khi còn làm biên tập xuất bản cũng như khi chuyển sang làm báo tôi mới có điều kiện để học, để đọc, để đi thực tế, để toàn tâm, toàn ý vào công việc biên tập, viết báo và sáng tác văn học.
 Ban ngày thời gian chủ yếu dành cho việc tiếp khách, đọc, họp hành, hoặc phóng xe đến thăm, chơi với các cộng tác viên, ban đêm viết. Ban đêm dù mệt mỏi bộ óc người ta vẫn làm việc một cách độc lập nhất không bị ảnh hưởng bởi những tác động khác. Chiếc máy chữ tạch... tạch... mổ cò đều đều có khi suốt đến sáng tải những ý, những câu, những từ ngữ trong đầu ra giấy.
 Khoảng hơn hai tháng bản thảo tiểu thuyết "Những sư tử non" hoàn chỉnh. Tôi gửi vào Nhà xuất bản Thuận Hoá và được in gấp để kịp phát hành vào dịp kỷ niệm mười năm ngày hoàn toàn giải phóng miền Nam, rồi đến năm 2000 Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản với số lượng tới hơn một vạn hai ngàn quyển.
 
*
*   *
 
 Cũng ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngoài đề tài khiến tôi trăn trở: cuộc sống sẽ thế nào sau bao nhiêu năm con người đã từng mang đầy thù hận với nhau, còn một đề tài khác là phải tái thiết đất nước thế nào sau bao nhiêu năm bị chiến tranh tàn phá? Tôi nghĩ tới các công trình xây dựng. Vì thế viết xong tiểu thuyết "Những sư tử non" tôi thu xếp đến thực tế ở công trường xây dựng Nhà máy nhiệt điện Phả Lại và thuỷ điện Hoà Bình. Những năm của thập kỷ tám mươi miền Bắc thiếu điện nghiêm trọng. Ngay Thủ đô Hà Nội mà mỗi tuần phải cắt điện ít nhất hai ngày. Nhà máy, xí nghiệp đóng cửa vì không có điện, bác sĩ phải mổ dưới ánh đèn măng-xông vì không có điện, đồng ruộng khô cong, cây trồng héo táp mà không có điện chống hạn, mưa to lũ lớn nước nhấn chìm ngô lúa hoa màu mà không có điện chống úng...Khát điện như khát nước. Khắp nơi hướng về Phả Lại và Hoà Bình từng giờ từng phút chờ phát điện. Đây là hai chiến trường rất quan trọng không khác Đường Chín, Nam Lào, Khe Sanh, Quảng Trị thời chống Mỹ. Chỉ khác mục đích thời đó là đánh bại kẻ thù xâm lược thống nhất Tổ quốc. Còn mục đích bây giờ là chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, xây dựng đất nước giầu mạnh. Chính phủ giao Bộ Xây dựng chủ trì có sự phối hợp và tăng cường của các bộ, đặc biệt Bộ Quốc phòng và nhiều địa phương. Những công ty mạnh, những trung đoàn công binh, những phương tiện, thiết bị, xe máy lớn được điều về. Trên mỗi công trường quân số có lúc tập trung từ ba đến năm vạn người. Đời sống và điều kiện làm việc rất khó khăn. Lương thực thiếu phải ăn hạt bo bo, ngô, khoai, sắn. Thực phẩm chủ yếu mắm ruốc, cá khô, đậu phụ. Quần áo, dụng cụ bảo hộ lao động không đủ. Nước uống, nước sinh hoạt cũng phải chia nhau. Bù lại công trình được cả nước quan tâm. Hàng nghìn bức thư của các bạn trẻ và đồng bào từ khắp nơi gửi tới thăm hỏi động viên cán bộ công nhân và chiến sĩ. Thiếu nhi, học sinh từ mọi miền hưởng ứng phong trào nuôi gà lấy trứng gửi tặng công trường. Không khí lao động trên tất cả mọi hạng mục vô cùng sôi nổi với tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc hồi sinh". Có thể nói đây chính là nơi thử thách rèn luyện và sàng lọc nhân cách, phẩm giá con người không khác những chiến trường ác liệt thời chống Mỹ.
 Được đến thực tế ở đây đối với tôi cũng là sự may mắn.
 Hơn ba năm tôi liên tục gắn bó với hai công trình ấy. Cùng ăn, cùng ở, cùng lao động với cán bộ công nhân và chiến sĩ, từ việc đổ bê tông, chuyên chở vận liệu, xem xét thiết kế, các giải pháp thi công, đến thiết bị phương tiện máy móc, mối quan hệ với chuyên gia. Hiểu công việc, hoàn cảnh, tính tình thói quen, tính cách từ lãnh đạo đến các đội trưởng, tổ trưởng, công nhân và chiến sĩ...Chỗ nào tôi cũng đến, cũng hỏi, cũng ghi chép và quen biết thân tình.
 Tôi nhớ trên công trường xây dựng Nhà máy nhiệt điện Phả Lại từ khoảng giữa năm 1980 trở đi luôn sôi nổi bởi các chiến dịch phát động thi đua nhằm đảm bảo đúng tiến độ các hạng mục công trình, đặc biệt “Gian bun-ke khử khí nhà máy chính” với mục tiêu phải hoàn thành cao độ 53 mét. Tôi thường xuyên có mặt ở đây và cũng ở đây tôi rất vui được làm quen với Thọ công nhân thuộc Xí nghiệp 102. Thọ quê Tứ Kỳ, Hải Dương, người nhỏ thó, nhưng khoẻ, da ngăm đen, vui tính, hóm hỉnh, kể chuyện rất có duyên. Lần đầu gặp Thọ vào buổi tối, ngoài hiện trường, lúc giải lao giữa ca, cậu ta nằm dài trên tấm ván cốp-pha đầu gối lên hòn gạch. Hôm ấy cùng với tôi có cả anh Lê Văn Sang. Chúng tôi đều mặc đồ bảo hộ lao động, nghĩ cùng là dân công trường với nhau lên Thọ tào lao rất thoải mái. Khi tôi hỏi, lúc anh Sang hỏi, Thọ vô tư trả lời, cuộc đối thoại rất thú vị: "Cậu tên gì?". "Em tên Thọ. Nhưng chúng nó toàn gọi em là Thọ "toác" vì em hay ba hoa". "Vợ con gì chưa?". "Cũng đã nhắm một cô, ở quê. Đăng ký kết hôn rồi, mọi thứ đã chuẩn bị đầy đủ định chủ nhật sau là cưới. Nhưng em quyết định hoãn lại". "Tại sao?". "Công trường đang phát động chiến dịch. Bọn em quyết tâm phải đạt độ cao 53 mét Gian bun-ke khử khí, phải cắm được cờ chiến thắng lên đấy rồi mới về cưới vợ". "Nếu chưa đạt thì sao?". "Thì lại hoãn". "Nếu cô ấy không chịu?". "Em giải thích rồi. Nhất trí tuyệt đối". "Lương tháng này thế nào?". "Hai tháng nay bọn em đã được lĩnh đồng lương nào đâu. Tại mấy bố Ngân hàng kiến thiết. Chưa có lương bọn em vẫn làm hăng. Chả lĩnh trước thì lĩnh sau, họ quỵt thế quái nào được, phải không anh?"...Thọ ngồi dậy. Bấy giờ cậu ta mới để ý người hỏi chuyện mình, đã đứng tuổi, vội lùi xuống cười: "Chết, cháu xin lỗi bác. Người cháu hôi lắm phải không ạ? Cả tuần nay chưa tắm. Nước không có. Mọi khi cứ phốc xuống cái hố móng ống khói kia sì sũng qua loa cho hết mồ hôi rồi lại lên làm. Nhưng đợt này ở đấy cũng khô rồi. Ra sông thì xa, mà bận tối mắt tối mũi suốt... Đạt cao độ 53 mét, nếu có tiền lương bọn cháu kiếm “mộc tồn cuốc lủi” liên hoan mừng thắng lợi mời hai bác đến chơi nhá. Chắc hai bác là quân bên lắp máy phải không?"...Trò chuyện được một lúc nữa thì Trần Hùng phó giám đốc Công ty 18, đơn vị giữ trọng trách Tổng B đi đến, nhận ra chúng tôi, bắt tay, rồi quay sang Thọ "toác": "Anh bạn trẻ ba hoa gì với đồng chí Thứ trưởng đấy?". Thọ "toác" tròn xoe mắt: "Thế... thế bác đây là Thứ trưởng ạ? Chết em rồi. Nào em có biết đâu cơ chứ. Bác ăn mặc như cánh thợ thế này. Cháu xin lỗi bác ạ". Nói rồi cậu ta bẽn lẽn vội chụp mũ lên đầu chạy. Anh Sang nhìn theo: "Chúng ta có những người thợ thật tuyệt vời".
 Khi đi ngang qua chỗ nhóm thợ trẻ, tôi nghe một cậu hỏi Thọ "toác": "Thế mày bốc với đồng chí Thứ trưởng chuyện gì?". "Tớ bốc đủ mọi chuyện. Chuyện ăn bo bo, lương chưa có nhưng bọn mình vẫn làm rất "máu". Chuyện quần áo bảo hộ lao động không đủ. Chuyện kỹ sư Long của chúng ta trẻ mà rất giỏi và cái sáng kiến "khoán gọn"cực hay, phải thưởng Huân chương cho người nào nghĩ ra cách khoán ấy. Chuyện tớ sắp cưới vợ nhưng vì cái 53 mét tầng cao nên đành hoãn...”. "Mày ba hoa cả những chuyện vớ vẩn ấy?". "Theo tớ nó ba hoa thế mà tốt đấy. Cứ thật thà như thế có khi đồng chí Thứ trưởng lại khoái hơn phải ngồi đọc hàng chục trang báo cáo...”.
 Đúng ba giờ đêm hôm ấy chúng tôi được tin tai nạn lao động xảy ra ngoài hiện trường. Nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu.
 Tôi, anh Nguyễn Tôn và anh Lê Văn Sang chui vào chiếc U-oát giục cậu Khánh lái ngay sang bệnh xá. Ngoài cổng, trong sân từng tốp năm bẩy công nhân đứng túm tụm, không khí thương cảm bao trùm. Một giọng tức tưởi trong nước mắt: "Nó có vẻ mệt mỏi đã ba hôm nay. Tôi bảo nghỉ, nó cười: "Nhức đầu qua loa, sợ quái gì?". Khi xảy ra tai nạn tôi tìm thấy trong túi nó tờ “Giấy nghỉ ốm” đã nhầu nhũn đẫm máu. Thương nó quá". Thọ bị rơi từ độ cao hai chục mét xuống, gãy một tay và chấn thương sọ não, nhưng rất tỉnh. Đầu và thân quấn băng kín chỉ hở gương mặt tái nhợt. Thấy chúng tôi vào bác sĩ khẽ lắc đầu, còn Thọ, giọng yếu, nhưng tỉnh: "Cháu chào các bác. Các bác đừng điện cho bố cháu nhé. Bố cháu bị bệnh tim, biết cháu thế này...Chỉ tại mấy cậu thợ trát vá đêm qua. Chúng nó cậy chiếc ván lát giàn dáo để dòng dây kéo bê tông ở dưới lên, lẽ ra làm xong phải lắp lại, đóng đinh như cũ, nhưng bọn cẩu thả ấy, cháu không biết bước vào...Thế là cháu không được về cưới vợ nữa rồi...Cũng không chỉ tại chúng nó đâu. Giá mà có lưới bảo hiểm thì cháu không chết... Bác ạ... giá mà có lưới bảo hiểm...”. Giọng Thọ run run yếu hẳn, rồi tắt, đuôi mắt lăn dài mấy giọt lệ, Thọ nấc nhẹ, máu ựa ra miệng... Bác sĩ kiểm tra đồng tử, thở dài thất vọng. Tất cả chúng tôi không ai cầm nổi nước mắt. Anh Sang lặng đi, rồi kéo tôi bước ra khỏi phòng.
 Suốt trên đường về anh trầm ngâm rồi gần như nói trong nước mắt: "Chúng mình có tội với cậu ấy. Giá mà có lưới bảo hiểm...”. Dường như lời trăng trối cuối cùng của Thọ đang day dứt cắn xé lương tâm anh.
 Suốt sáng hôm sau ở ngoài hiện trường. Buổi chiều dự lễ truy điệu Thọ. Nhìn người mẹ và vợ sắp cưới của Thọ lăn lóc vật vã kêu khóc không ai nén lòng được. Tâm trạng trĩu buồn, tôi về tới công trường bộ đã gần năm giờ. Không mưa, nhưng rét. Xuống nhà ăn tôi ngạc nhiên thấy năm mâm cỗ rất thịnh soạn: giò lụa, thịt gà, rau cần xào cá quả, cơm trắng...lại có cả mấy chai rượu chanh Hà Nội. Một anh chàng diện rõ bảnh, mặt cau có đang to tiếng: "Cơm thợ. Đây là cơm thợ. Chỉ dân công trường mới ăn được thôi, chứ các ca sĩ nuốt sao nổi. Họ toàn là những người nổi tiếng đoạt giải cao cấp quốc gia cả. Phải nói năng mãi họ mới chịu xuống đây biểu diễn mà các ông cho ăn uống thế này à? Dẹp, dẹp. Bỏ. Không biểu diễn nữa". Anh Bi, thư ký Công đoàn vốn mát tính cứ xoa tay trình bày khó khăn. Ngồi ăn suất cơm độn ngô ở góc phòng cùng mấy anh em nghe thằng cha ấy nói tôi khó chịu quá. Hỏi ra mới biết hắn là "cai đầu dài" chuyên chắp nối các nghệ sĩ xuống cơ sở "biểu diễn dịch vụ" để lợi dụng kiếm chác. Anh Bi càng nhã nhặn, hắn càng lên nước hạch sách. Điên tiết không chịu nổi, tôi đứng dậy, dáng to cao lừng lững tiến đến, chộp ngực áo thằng cha ấy dí vào tường, dằn từng tiếng: "Không ăn thì cút. Không biểu diễn nữa thì xéo. Ở đây chỉ có thợ và cơm thợ. Ở đây chỉ chấp nhận những ai biết kính trọng người thợ và lấy làm tự hào được phục vụ người thợ. Những người thợ ở đây tự nguyện chấp nhận cuộc sống thiếu thốn gian khổ, vất vả và cả hy sinh tính mạng nữa để làm ra điện cho Tổ quốc. Họ sống vì mục đích lớn lao cao cả như thế chứ không tầm thường như anh. Các ca sĩ phải hãnh diện được xuống đây phục vụ họ. Phải biết ơn vì họ đã ban cho vinh hạnh ấy. Họ không yêu cầu và không tiếp nhận những kẻ xuống đây hạch sách, làm tiền. Tôi là nhà văn, nhà báo từ Hà Nội về sống với những người thợ xây dựng cả năm nay rồi để mong đựơc viết về họ, thể hiện sự ngưỡng mộ và kính trọng họ. Bằng tư cách ấy phải nặng lời với anh như thế là bất đắc dĩ, nhưng không thể làm khác. Bởi anh đã dám xúc phạm đến những người thợ xây dựng. Còn tôi, tôi đứng về phía họ, nhân danh họ để cảnh cáo anh".
 Thằng cha câm họng. Tôi buông tay và hắn lùi lũi chuồn ngay.
 Có được tình cảm ấy bởi tôi đã trở thành thợ xây dựng thực sự, gắn bó tâm huyết với họ, hiểu về ngành xây dựng, về người làm xây dựng, vốn sống nhiều, nguyên mẫu nhân vật phong phú, chi tiết không thiếu, nhưng viết ký, truyện ngắn được, chứ tiểu thuyết không dễ. Ngổn ngang chỉ gạch đá, sắt thép, xi măng, xe máy và những người lao động cần cù hiền lành, ít có tình huống gay cấn nguy hiểm, hoặc áp lực dữ dội, căng thẳng giữa thắng và thua, giữa sống và chết như trong chiến tranh. Tạo ra được cốt truyện hấp dẫn để từ đó nhân vật có điều kiện bộc lộ tính cách quả rất khó. Nhưng không thể không viết tiểu thuyết. Đắn đo cân nhắc mãi tôi quyết định dùng số phận nhân vật để tạo ra và dẫn dắt cốt truyện. Muốn thế nhân vật phải độc đáo và tôi nghĩ ngay đến Đức "Rây-mông" và những người tôi đã gặp. Chế độ Mỹ ngụy đã biến Đức thành tướng cướp, một nhân vật khét tiếng trong giới xã hội đen và tính cách lại khá phức tạp, nổi bật là chất hiệp khách giang hồ thẳng thắn, cương trực sẵn sàng sả thân vì đại nghĩa...Thế là Đức "Rây-mông" trở thành nguyên mẫu để tôi xây dựng nhân vật Lâm "Hen-kin" cho tiểu thuyết của mình với lý lịch mới: con trai ông vụ trưởng Vụ Tổ chức Bộ Xây dựng vốn là cán bộ miền Nam tập kết. Sau ngày giải phóng ông về quê tìm lại gia đình, nhưng vợ đã chết bởi tên quận trưởng cảnh sát ngụy cưỡng bức, để giữ trọn danh tiết bà cắt động mạch tự tử. Con trai nhỏ đi bụi đời, lớn đi làm thợ sửa chữa ôtô, rồi ét xe đò, bị bắt vào quân dịch thuộc Trung đoàn Biệt động Trâu Điên, nổi khùng bắn lại chỉ huy, đảo nhiệm, làm tướng cướp. Hết thời gian đi tập trung cải tạo về. Cha con gặp nhau. Ông đưa nó ra Bắc rồi gửi xuống công trường Phả Lại. Cuộc sống lao động, tình người cao đẹp cảm hoá Lâm "Hen-kin". Anh đã tìm được ý nghĩa cho đời mình...
 Có hướng phát triển cho nhân vật chính, tôi dành cả tháng làm đề cương tiểu thuyết "Có những người như thế" cốt truyện cứ dần hình thành, quy mô tiểu thuyết mở rộng, nhân vật lần lượt xuất hiện, phong phú, đa dạng nhiều loại người, nhiều tầng lớp, nhiều hoàn cảnh, nhiều tính cách, nhiều số phận. Bất luận họ là gì, một quan chức, một anh lính, một trí thức, một người thợ hay một tên lưu manh, thoái hoá biến chất... chỉ là cái xác. Còn tư tưởng, tâm hồn, cho tới ngôn ngữ, hành động của họ đều nhằm chuyển tải ý đồ tác giả, là tâm huyết của tác giả, là những điều sâu kín được tác giả gửi gắm. Các nhân vật trong "Có những người như thế" giúp tôi việc đó. Thứ trưởng Lê Đáng, đi lên từ giám đốc xí nghiệp, giám đốc công ty, tổng giám đốc, cục trưởng rồi thứ trưởng. Một người rất yêu nghề, rất trách nhiệm, giầu lương tâm với nghề, trung thực và nhân ái. Quy tụ ở ông là những phẩm chất tốt đẹp của người thợ, người quản lý, người lãnh đạo ngành xây dựng. Lâm “Hen-kin” vốn đã từng là thợ máy giỏi, anh được làm việc ở Xưởng sửa chữa ôtô. Cốt cách ngang tàng không bao giờ chịu cúi đầu trước thế lực nào, nhưng biết lỗi nhận lỗi, biết sai sửa sai. Thẳng thắn cương trực thích ra tay cứu giúp người yếu đuối khó khăn và căm ghét những kẻ cậy quyền hống hách, tham lam trộm cắp. Lâm "Hen-kin" đối đầu quyết chiến với bọn cán bộ, cảnh sát thoái hoá, thương binh công thần cấu kết với những phần tử xấu tham ô ăn cắp tài sản, vật tư thiết bị của nhà máy. Vất vả cam go nhưng cuối cùng anh và những người ủng hộ anh đã thắng. Nữ lái xe Phạm Thị Thái cá tính mạnh mẽ, không coi mình thuộc "phái yếu", không khuất phục trước khó khăn, không bị cám dỗ bởi đồng tiền bất chính, không hạ mình nhận sự chiếu cố, tranh luận thẳng thừng với cả giám đốc, dùng cơ-lê đập gãy răng gã đội trưởng háo sắc khi hắn dở trò bờm xơm cợt nhả, lao động giỏi nhưng không quan tâm tới việc tâng bốc khen thưởng, rất ngưỡng mộ Lâm "Hen-kin" khi bằng "con mắt tinh đời" cô nhận ra ở chàng trai ấy bản chất cao thượng mà hiếm người đàn ông có được khiến trái tim rung động. Đối với Lâm "Hen-kin" đã có biết bao phụ nữ qua cuộc đời mà không hề để lại ấn tượng gì sâu sắc, nhưng từ khi gặp Thái, rồi yêu Thái anh mới ý thức, mới hiểu được thế nào là tình yêu, tình người. Chính Thái đã giúp anh nhận thức được ý nghĩa cuộc sống và cuộc sống có nghĩa.
 Đó là mối tình rất lạ, rất đẹp. Viết rất thích.
 Long, chiến tranh chống Mỹ là đại đội trưởng bộ đội đặc công tham gia nhiều trận đánh nổi tiếng. Hoà bình được cử đi học Đại học Xây dựng, ra trường tự nguyện về công trường Phả Lại làm đội trưởng "Đội thanh niên xung kích", quản lý giỏi, nhiều sáng kiến, uy tín cao. Đến đây Long gặp lại hai người. Đó là Phán. Phán vốn là chiến sĩ bộ đội đặc công do anh chỉ huy. Một lần Phán đi cùng mũi trinh sát với Huế. Không may Huế bị thương nặng. Phán nhẫn tâm bỏ Huế nằm lại trong căn cứ địch, tệ hơn còn nhận những tài liệu Huế thu thập được là của mình. Rất may Huế được đồng đội cứu sống. Chuyện vỡ lở, Phán bị kỷ luật thải hồi khỏi quân đội trả về địa phương. Thế mà không biết bằng cách nào anh ta chui được vào Đảng, tham gia cấp uỷ và hiện làm đội trưởng Đội Vận chuyển ở công trường này. Thứ hai là phó tiến sĩ Hội, người cùng làng, tuổi thơ họ gắn bó với nhau, chính Long đã cứu Hội thoát chết trong một lần thi bơi qua sông. Học xong cấp ba Long đi bộ đội, còn Hội nhờ lý lịch tốt nên vào thẳng đại học, rồi đi du học nước ngoài. Tốt nghiệp về làm việc ở Vụ Kỹ thuật Bộ Xây dựng và được biệt phái xuống làm trưởng Phòng Thi công tại công trường này. Ghen ghét với thành tích và uy tín của Long, hận vì yêu say đắm bác sĩ Huyến, nhưng Huyến lại ngưỡng mộ Long, Hội tìm cách hại Long, tranh công đổ tội cho Long. Bằng việc ứng xử của các mối quan hệ này mà tình tiết truyện hấp dẫn và bản chất, nhân cách của Long, Hội, Phán cùng các nhân vật khác bộc lộ. "Nữ hoàng" Yến, kỹ sư cơ khí, xinh đẹp, sắc sảo. Mối tình đầu khi còn là sinh viên lại "cặp" đúng vào một "gã Sở Khanh" từ đó cô mất lòng tin và căm thù đàn ông. Cô trả thù bằng cách "nhử" cho họ yêu mình say đắm rồi bỏ, cốt làm cho trái tim họ tan nát như mình đã từng phải chịu. Riêng với Lâm "Hen-kin" cô không làm thế, bởi cô yêu thật sự, nhưng rất tiếc Lâm "Hen-kin" lại dành trọn trái tim mình cho Thái. Tình yêu của "gái công trường" nếu chịu khó tìm hiểu, khai thác cũng hay lắm, lạ lắm, đẹp lắm, viết thích lắm. Đỗ Văn, giám đốc công ty, Hữu Tiệp kế toán, Dòng thủ kho, Phán đội trưởng vận chuyển...là một lũ thoái hoá biến chất cấu kết nhau, móc nối với những phần tử xấu khác ngoài công trường bằng mọi thủ đoạn tinh vi tham ô, ăn cắp vật tư nguyên liệu và bày mưu tính kế hãm hại người lương thiện.
 Mâu thuẫn này gọi mâu thuẫn khác, cốt truyện, tình tiết ngày càng hấp dẫn, nhân vật phong phú với nhiều cá tính và nhân cách...
 Tôi viết rất say mê, câu cú, ngôn từ sửa đi sửa lại cẩn thận. Nhà văn tích luỹ ngôn ngữ giống như nhà tư bản tích luỹ tài chính và phải biết sử dụng sao cho hiệu quả nhất. Ngôn ngữ không thờ ơ với mình, chỉ có mình thờ ơ với ngôn ngữ. Bởi thế phải yêu, phải hiểu, phải quý trọng và phải đặt mọi yếu tố của ngôn ngữ sao cho đúng vị trí. Đó là công việc của người làm nghề biên tập, còn gọi là "nghề câu chữ". Chính cái "nghề câu chữ" này đã giúp tôi rất nhiều trong sáng tác văn học. Nếu nhà văn là phù thuỷ thổi hồn vào ngôn ngữ thì biên tập là người có tài điều khiển ngôn ngữ như điều khiển âm binh. Văn hào Bớc-na-sô nổi tiếng nhưng rất khó tính. Có lần ông gửi truyện ngắn đến một tạp chí. Chủ bút cử biên tập viên già dặn kinh nghiệm đảm trách bản thảo ấy. Ngay sau khi phát hành, Bớc-na-sô mũ phớt đội lệch trên đầu, kính trắng đeo trễ tận má, loè xoè áo khoác, tay chống can, miệng ngậm píp xông thẳng vào toà soạn dõng dạc hỏi: "Ai biên tập bản thảo truyện của ta?". Một người đứng dậy: "Thưa ngài, tôi ạ". "Tại sao anh dám sửa văn của ta?". "Thưa ngài, tôi không hề sửa chữa hoặc thêm bớt một từ, hoặc một dấu ngắt câu nào của ngài, mà chỉ thay đổi vị trí của chúng thôi". Bớc-na-sô mỉm cười, dang rộng hai tay ôm lấy người biên tập ấy tỏ lòng biết ơn.
 Vương Bột tự Tử An, người Giang Châu (Trung Quốc) mười tuổi đã đọc thiên kinh vạn quyển, mười ba tuổi hạ bút thành thơ nổi danh khắp thiên hạ, cùng với Dương Quýnh, Lư Chiển Lân và Lạc Tân Vương họp thành "Sơ Đường tứ kiệt". Có lần ông dâng vua Đường Cao Tông bài "Thu cảm" của mình. Trong bài có câu:
"Lạc hà dữ cô vụ tề phi
Thu thuỷ cộng tràng thiên nhất sắc"
 Dịch là:
"Cô đơn ráng lẻ bay ngang
Trời thu cùng với trường giang một màu"
 Xem xong nhà vua không khen, bỏ đi. Vương Bột tức khí nhảy xuống hồ tự tử. Từ đó vào những đêm thu thanh vắng, người ta thường nghe văng vẳng tiếng Vương Bột ngâm hai câu thơ ấy vọng lên từ mặt nước.
 Rồi có lần một văn nhân đi ngang qua, vào đêm thu, nghe giọng ngâm ấy liền nói: "Lời thơ hay, nhưng thừa chữ. Nếu bỏ hai từ "dữ" và “cộng" đi thì sẽ toàn bích":
"Lạc hà cô vụ tề phi
Thu thuỷ tràng thiên nhất sắc"
Từ khi được vị văn nhân tài năng ấy "biên tập" lại câu thơ cho mình không còn ai nghe giọng ngâm của Vương Bột từ mặt hồ nước vọng lên nữa!
 Hồi làm biên tập sách văn học ở Nhà xuất bản Thanh Niên, giải phóng miền Nam được chừng một tháng, chúng tôi gấp rút tổ chức bản thảo để in một tập thơ (nhiều tác giả) chủ đề thống nhất đất nước. Một hôm nhà thơ T.H đích thân mang bản thảo một bài thơ ngắn, chỉ có bốn câu, đến gặp tôi. Tính ông vốn khiêm nhường ít nói. Đưa bài thơ cho tôi, giọng ông nhỏ nhẹ: "Cậu xem nếu dùng được…”. Cùng đi còn một người bạn, trạc tuổi ông và cũng nói giọng Nam. Mời khách uống nước, tôi đọc ngay:
"EM
Em gần gũi. Em xa xôi
Sao em như vệt chân trời trước anh
Giơ tay tưởng với được tình
Bước đi, đi mãi mà mình vẫn xa"
 Được người nổi tiếng như ông, nhà thơ miền Nam tập kết, viết về chủ đề thống nhất đất nước, lại đích thân mang bài đến thì thật đáng trân trọng quá. Có điều trước đây mỗi khi cộng tác với nhà xuất bản ông thường gửi cả tập, hoặc chùm thơ, sao lần này ông chỉ đưa có một bài, lại rất ngắn như thế? Dường như đọc được ý nghĩ của tôi, nhân lúc T.H sang thăm nhà thơ Tú Sót ở phòng bên, bạn ông kể cho tôi nghe về xuất xứ bài thơ ấy...
 Năm 1954, trước khi ra miền Bắc tập kết, T.H có để lại mối tình với một thiếu nữ cùng quê tuyệt vời cả nhan sắc và đức hạnh. Họ chia tay trong nỗi buồn sâu nặng và hẹn hai năm sau đất nước tổng tuyển cử sẽ gặp lại. Nhưng rồi kẻ thù đã chà đạp Hiệp nghị Giơ-ne-vơ và nước ta bị chia cắt làm hai miền Nam - Bắc. Bao năm đằng đẵng nhớ nhung. Rồi cuộc sống không thể khác. Trong Nam thiếu nữ ấy phải kết duyên với một giáo sư Anh ngữ. Ngoài Bắc T.H cũng xây dựng với một phụ nữ xinh đẹp và nết na không kém. Nhưng tận sâu thẳm tâm hồn, nhà thơ vẫn không thể quên thiếu nữ ấy. Nỗi lòng thầm kín ông chỉ tâm sự với người bạn thân cùng tập kết. Người bạn ấy không chỉ thân với ông, mà rất thân cả với cô gái ông yêu. Đó là người cùng đến phòng tôi với ông hôm nay.
 Trở về quê hương trong không khí tràn đầy niềm vui chiến thắng. Theo sự sắp xếp của bạn, hai người tìm đến tận nhà riêng thăm cố nhân. Trong phòng khách nhỏ, ngăn cách bởi chiếc bàn dài, trên đó lọ hoa hồng tươi rất gợi cảm, T.H ngồi bên bạn, đối diện ông là thiếu phụ tuổi đã gần năm mươi nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp kiêu sa mà một thời ông say đắm, cạnh người chồng cao, gầy, lịch lãm. Chỉ bạn ông và chủ nhân trò chuyện. Ông im lặng ngắm từng bông hồng, thỉnh thoảng liếc nhìn đôi bàn tay thon nhỏ nõn nà. Cuộc gặp sau hơn hai mươi năm xa cách khiến nhà thơ vô cùng xúc động. Ngay đêm ấy ông viết bài thơ này. Bài thơ hay mà sâu sắc: "Em gần gũi. Em xa xôi" - gần lắm, chỉ cách nhau cái bàn nhỏ và những bông hồng. Nhưng xa cách muôn trùng. Bởi: "Em" bây giờ đã thuộc người khác rồi. "Sao em như vệt chân trời trước anh" – Em vẫn đẹp rực rỡ như áng mây chiều dát vàng. Nhưng tiếc thay em chỉ là "đường chân trời", nhìn thấy đấy mà không thể tới được. "Giơ tay tưởng với được tình"- Chỉ chừng nửa mét, tưởng "giơ tay" là có thể "với được” nhau. Mà không. Không thể. "Đường chân trời" luôn ở phía trước, dẫu có "bước đi, đi mãi mà mình vẫn xa"(!). Buồn quá. Thương quá. Xót xa quá. Đau khổ quá. Vì đâu? Vì chiến tranh. Vì kẻ thù cướp nước và bán nước gây nên. Bài thơ tình mà mang giá trị tố cáo, lên án chiến tranh sâu sắc.
 Tôi quyết định dùng bài thơ này. Có điều đặc biệt là nhà thơ rất quan tâm đến cái dấu "chấm"(.) đặt ở giữa câu thứ nhất: "Em gần gũi. Em xa xôi". Hai lần anh điện nhắc tôi và yêu cầu được đọc "bản bông" cuối cùng trước khi in. Anh bảo tôi: "Bỏ cái dấu chấm ấy, hoặc thay bằng dấu ngắt câu khác thì bài thơ sẽ đổ". Đúng là như thế. Dấu "chấm" đó giống một lưỡi gươm cắm phập giữa hai trái tim, chia cắt tình đôi lứa, xé nát cuộc sống bao gia đình, bao dòng tộc, chém ngang đất nước làm hai miền. Dấu “chấm” đặt ở vị trí ấy, và chỉ ở vị trí ấy thôi, mới đem lại hiệu quả cao nhất giá trị lên án chiến tranh. Có thấu nỗi đau mất mát mới thấy được ý nghĩa chiến thắng vĩ đại giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
 Rõ ràng biên tập là một nghề và sáng tác là một nghề. Khác nhau. Có người sáng tác giỏi, nhưng biên tập dở. Có người biên tập giỏi, nhưng không sáng tác được. Nếu biết cả hai nghề thì đó là một may mắn và rất mừng là tôi đã có được may mắn ấy.
 Khi viết không bao giờ tôi quan tâm tới lý luận văn học, mà chỉ khát vọng truyền được cảm xúc và tư tưởng từ trái tim khối óc của mình đến bạn đọc với mục đích chủ đạo là mong muốn sự tốt đẹp bằng tự do sáng tạo không chịu sự chi phối bởi bất cứ áp lực và sự can thiệp nào.
 Tôi trung thành với văn phong tả thực từ kết cấu cốt truyện đến nhân vật, ngôn ngữ. Chân chất, dễ hiểu, đối tượng bất luận thuộc đẳng cấp nào, trình độ nào cũng đọc được. Nhốt mình suốt hơn năm tháng viết xong bản thảo tiểu thuyết "Có những người như thế" tôi gửi đến Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, được ấn hành tới hơn mười nghìn cuốn. Sau đó Nhà xuất bản Thanh Niên tái bản lần một, rồi lần hai.
 Từ đó tới nay, suốt mấy chục năm tôi vẫn gắn bó với ngành xây dựng và những người làm xây dựng cũng luôn coi tôi là "anh em trong nhà". Sau "Có những người như thế" tôi viết tiếp tiểu thuyết "Tình yêu không cô đơn" (Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành, rồi Nhà xuất bản Thanh Niên tái bản), kịch bản phim "Những người đi xuyên núi" (Hãng phim truyện Việt Nam), phim "Chinh phục dòng sông" (Điện ảnh Quân đội nhân dân), nhiều truyện ngắn và một số tác phẩm khác.
 Được đến thực tế ở nhành xây dựng và được ngành xây dựng ưu ái giúp đỡ, với tôi, đó cũng lại là may mắn.
 
*
*   *
 
 Trong số hơn hai chục đầu sách đã xuất bản, có cuốn "Những ngày sóng gió" là hồi ký của bác Lê Giản do tôi chắp bút.
 Ngày 19 tháng 5 năm 1975, một nhóm gồm mấy anh em vốn gắn bó thân thiết rủ nhau đến chùa Thị Cấm gần Cầu Diễn (Từ Liêm - Hà Nội) ăn cơm chay do nhà văn Học Phi khởi xướng và chủ trì. Nhà văn – nhà viết kịch Học Phi nổi tiếng trên văn đàn từ trước Cách mạng tháng tám, là thành viên sáng lập "Hội văn hoá Cứu quốc" (1943). Năm 1945 tham gia lãnh đạo giành chính quyền và được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban hành chính lâm thời tỉnh Hưng Yên, sau đó được cử sang phụ trách "Hội Phật giáo cứu quốc trung ương" rồi "Ban tuyên huấn trung ương", lúc này ông đang lãnh đạo "Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam". Tôi được quen nhà văn Học Phi khi ông về giảng ở "Lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ". Ông rất quý tôi và nhận tôi làm em kết nghĩa. Dịch giả Vũ Quốc Uy vốn là Chủ tịch Uỷ ban hành chính lâm thời thành phố Hải Phòng, rồi chuyển sang "Hội văn hoá cứu quốc" và lúc đó là quyền Chủ nhiệm "Uỷ ban liên lạc văn hoá với nước ngoài" (tôi có mời ông dịch cuốn "Một người Mỹ trầm lặng" cho Nhà xuất bản Thanh Niên). Nhà báo Phạm Tuân, nguyên phó chính uỷ Trung đoàn Thủ đô trong kháng chiến chống Pháp, khi đó là phó Tổng biên tập Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận, tên tuổi ông gắn liền với nhiều ca khúc nổi tiếng: “Du kích Sông Thao”, “Áo mùa đông”, "Hành quân xa”, "Giải phóng Điện Biên Phủ". Thượng tọa Thích Thanh Doãn trụ trì chùa Bà Đá và bác Lê Giản. Tôi ít tuổi nhất nên được mọi người coi như em út. Trong bữa cơm hôm ấy nhà văn Học Phi nói với bác Lê Giản: "Cuộc đời anh ly kỳ hấp dẫn lắm. Viết hồi ký đi". Bác Lê Giản cười: "Nhưng mình không có năng khiếu viết văn". Nhà văn Học Phi đặt tay lên vai tôi: "Chú em này sẽ giúp anh". Im lặng. Nghĩa là bác Lê Giản chưa bằng lòng kể và tôi cũng chưa nhận lời ghi. Về cuộc đời bác Lê Giản tôi chỉ biết đại khái: tên thật ông là Tô Dĩ, sinh năm 1913, quê làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tham gia cách mạng với tư cách nhà báo tự do bị giặc Pháp đầy lên căng Bắc Mê (Hà Giang), rồi nhà tù Sơn La cùng với các bậc cách mạng tiền bối như Tô Hiệu, Trần Huy Liệu, Lê Đức Thọ, Nguyễn Lương Bằng, Trần Đình Long, Xuân Thuỷ... Năm 1941 ông cùng một số bạn tù cộng sản gồm các đồng chí Hoàng Đình Rong, Vũ Văn Địch (tức Trần Hiệu), Nguyễn Văn Ngọc, Đoàn Ngọc Rê (tức Dương Công Hoạt), Nguyễn Văn Phòng (tức Nguyễn Văn Minh), Nguyễn Văn Cảnh, Trần Ngọc Kha, Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam), Trần Văn Minh (tức Châu Lượng), Phan Văn Khích, ba phần tử thân Nhật là Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Thế Song, pháp sư đạo Cao Đài là Phạm Công Tắc, có cả hai tên Tơ-rốt-kit Long và Phấn bị thực dân Pháp tống xuống tầu biển đưa đi đầy ở đảo Nô-si-la-va thuộc Ma-đa-gat-xca tận châu Phi, gần đảo Rê-uy-ni-on mà hai cha con vua Thành Thái và Duy Tân cũng đang bị giữ an trí tại đó. Cuối năm 1942 đế quốc Anh chiếm toàn bộ đảo Ma-đa-gat-xca. Năm 1943 chúng đưa các ông: Lê Giản, Phan Bôi, Hoàng Đình Rong, Trần Văn Minh, Đoàn Ngọc Rê, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Phòng và Vũ Văn Địch từ Ma-đa-gát-xca về Can-quýt-ta (Ấn Độ) huấn luyện làm tình báo phục vụ quân đồng minh chống phát xít. Tháng 7 năm 1944, ngoài ông Trần Văn Minh bị giữ lại làm phát thanh viên tiếng Việt Nam cho đài phát thanh của Anh ở Niu-đê-li còn tất cả đều được chúng chở bằng máy B.36, ban đêm cất cánh từ Can-quýt-ta bí mật cho nhảy dù xuống rừng Việt Bắc (Việt Nam). Ngay sau khi tiếp đất họ đã tìm cách bắt được liên lạc với Trung ương Đảng ta và thực hiện kế hoạch làm tình báo hai mang nhằm tương kế tựu kế. Năm sau chấm dứt việc quan hệ với bọn Anh, họ được Trung ương phân công mỗi người một nhiệm vụ toả về các địa phương chỉ đạo phát động quần chúng giành chính quyền, riêng đồng chí Lê Giản được ở lại Tân Trào phục vụ Bác Hồ, đến đầu năm 1946 được Bác Hồ bổ nhiệm làm Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam ngay khi mới thành lập. Trong bối cảnh lịch sử đầy sóng gió, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối phó vô cùng vất vả với cả thù trong giặc ngoài, biết bao áp lực, nguy hiểm mà ngành công an phải đương đầu và đã giành thắng lợi, đặc biệt phá vụ án Ôn Như Hầu nổi tiếng vào ngày 12 tháng 7 năm 1946...
 Chắp bút viết hồi ký giúp người khác không giống viết tiểu thuyết. Ngoài sự sáng tạo văn chương còn những yếu tố khác như: người viết phải có hứng thú bởi cảm nhận được những yếu tố hấp dẫn và sâu sắc của hồi ký, hoặc giữa người viết và người kể phải thân nhau, hiểu nhau, quý trọng, tin cậy nhau và đặc biệt có sự đồng cảm sâu sắc với nhau mới viết được, viết mới hay, nếu không dù cố thì cũng chỉ là những con chữ không hồn chết khô trên mặt giấy mà thôi. Cho nên sự im lặng của tôi và bác Lê Giản lúc ấy là cần thiết. Chúng tôi phải hiểu thêm về nhau.
 Cũng từ sau bữa cơm chay hôm ấy bác Lê Giản rất quan tâm đến tôi. Bác gọi tôi là "chú" xưng "mình". Tôi gọi "bác" xưng "em". Tình cảm rất gắn bó. Bác rủ tôi về quê Xuân Cầu, đến thắp hương nhà thờ Tổ họ Tô, thăm những người họ hàng ruột thịt, thăm bà cụ tuổi đã ngoài bẩy mươi vốn là người yêu ông Tô Hiệu. Khi ông bị đầy ở nhà tù Sơn La bà chờ đợi. Ông qua đời, bà ở vậy thờ ông không đi lấy chồng. Bác đưa tôi lên chùa, vào đình thắp hương, dẫn đi ròng ròng quanh làng, ra đồng, dạo trên đê vừa ngắm phong cảnh vừa kể về những kỷ niệm thời thơ ấu đã in dấu ấn ở những nơi này. Hồi ấy bác Lê Giản đang là phó chánh án Toà án nhân dân tối cao (ông Phạm Văn Bạch, nguyên Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ làm chánh án) công việc rất bận, nhưng bác vẫn thường tổ chức mấy anh em đi píc-ních. Tôi nhớ một lần đi Côn Sơn, Kiếp Bạc, hôm ấy có cả giáo sư Trần Văn Giầu từ Sài Gòn ra, cùng ngồi bên Bàn Cờ Tiên trên đỉnh núi nhìn xuống Lục Đầu Giang trao đổi về trận chiến Bạch Đằng từ Ngô Quyền đến Trần Hưng Đạo... Đặc biệt đàm luận rất nhiều thảm án Lệ Chi Viên, về nỗi oan ngút trời của Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Tôi rất ngưỡng mộ sự uyên bác của giáo sư Trần Văn Giầu. Buổi chiều hết giờ làm việc, trên đường từ Toà án tối cao ở phố Lý Thường Kiệt về nhà ở số 8 phố Nguyễn Thượng Hiền bác thường ghé vào "căn phòng nhỏ" thăm tôi trò chuyện, khi thì nói về vụ án Tạ Đình Đề, một nhân vật huyền thoại của giới tình báo thời chống Pháp mà bác đang thụ lý xét xử với cách nhìn rất đổi mới, khi bàn về sự bất cập của hệ thống pháp luật hoặc về phẩm chất quan toà vân...vân...Thỉnh thoảng có món mắm rươi của con gái mang từ Quảng Ninh đem lên bác lại hẹn tôi và bác Học Phi đến nhắm rượu. Thịt lợn ba chỉ luộc chấm mắm rươi kèm các loại gia vị như khế chua, chuối xanh, hành sống, gừng tươi thái nhỏ và rau thơm ăn xong nhớ đời. Tôi biết bác Lê Giản đang tìm hiểu thử thách tôi và tôi cũng thế. Càng ngày tôi càng thấy rất quý trọng bác, một người thẳng thắn, trung thực, kiên nghị, trọng nhân cách, căm ghét thói xu nịnh, khát vọng sự công bằng, nhân ái, độ lượng...Còn bác nhận xét về tôi thế nào, không biết. Nhưng khoảng tám tháng sau, bác bảo tôi: "Chú giúp mình ghi hồi ký. Nếu chú nhận lời, mình chỉ yêu cầu viết cách nào tuỳ chú, nhưng tuyệt đối không đề cao cá nhân". Sẵn trong lòng sự kính trọng, giờ lại thấy ý bác trúng ý tôi, nên nhận lời ngay. Từ hôm ấy chúng tôi có lịch làm việc cụ thể vào những ngày nghỉ và buổi tối hàng tuần. Ở tuổi ngoài sáu mươi, phải trải qua bao năm tháng tù đầy bị hành hạ tra tấn dã man vậy mà trí nhớ bác thật tuyệt vời, kiến thức sâu rộng, phân tích nhận định đánh giá hoàn cảnh, sự kiện và nhân vật lịch sử rất sáng suốt và sắc sảo. Không phải chỉ nghe bác Lê Giản kể tôi còn phải đi các thư viện tìm đọc các tài liệu liên quan và gặp những nhân chứng lịch sử khác. Trong số bị đầy ở Nô-si-la-va rồi được đế quốc Anh đưa về Can-quýt-ta huấn luyện tình báo sau đó cho nhảy dù xuống Việt Bắc thì ông Hoàng Đình Rong đi Nam tiến và hy sinh, ông Phan Bôi giữ chức thứ trưởng Bộ Nội vụ và qua đời...Rất may tôi còn gặp được ông Nguyễn Văn Ngọc. Năm 1946 ông được cử làm giám đốc Công an Trung bộ rồi làm thứ trưởng Bộ Công an và ông Vũ Văn Địch sau ngày toàn quốc kháng chiến là cục trưởng Cục Tình báo quân đội, sau chuyển ra làm viện phó, rồi thay ông Trần Hữu Dực làm viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Cả hai ông đều minh mẫn, trí nhớ và trí tuệ đều đáng kính trọng.
 Từ năm 1945–1946 là thời kỳ vô cùng sóng gió của cách mạng. Lúc này bác Lê Giản làm Tổng giám đốc Nha Công an và Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Bí thư Đảng Đoàn chính quyền. Tình hình lúc đó đòi hỏi hai ngành Quốc phòng và An ninh phải gắn bó phối hợp chặt chẽ. Thường đầu giờ làm việc các buổi sáng trong tuần Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Lê Giản phải lên Phủ Chủ tịch trực tiếp báo cáo công việc với Bác Hồ. Khi vụ án Ôn Như Hầu diễn ra Bác Hồ đang dự hội nghị Phông-ten-blô ở Pháp, cụ Huỳnh Thúc Kháng phó Chủ tịch nước thay quyền, nhưng những việc quan trọng thường do Đại tướng trực tiếp điều hành. Được gặp nghe Đại tướng kể tôi có khá nhiều tài liệu, nhất là những nhận định mang tính khái quát rất quan trọng. Tìm hiểu về vụ Ôn Như Hầu, ngoài lời kể của bác Lê Giản tôi còn gặp được ông Chu Đình Xương nguyên Giám đốc Sở Liêm phóng Bắc kỳ, ông Nguyễn Dương nguyên Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam (thời kỳ trung lập hoá hai ngành Công an và Quốc phòng), ông Nguyễn Tạo nguyên Trưởng Ty Điệp báo, đặc biệt thiếu tướng Lê Hữu Qua nguyên đội trưởng chỉ huy nhóm chiến sĩ dũng cảm dùng võ thuật bất ngờ tấn công bọn Đại Việt quốc dân đảng tại số nhà 132 phố Đuy-vi-nhô (phố Bùi Thị Xuân hiện nay) bắt được bọn phản động có vũ trang thu được nhiều truyền đơn và kế hoạch bạo loạn lật đổ Chính phủ lâm thời. Có nhân chứng, vật chứng đại tướng Võ Nguyên Giáp và quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng cho phép lực lượng công an tấn công truy quét. Cuộc chiến diễn ra ác liệt ở 80 phố Quán Thánh và số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều). Hầu hết bọn phản động từ tên cầm đầu đảng Đại Việt là Trương Tử Anh đến bọn tay chân đều bị bắt.
 Suốt mấy năm săn tìm tài liệu, đối chiếu xác minh tài liệu, tôi làm đề cương lấy bối cảnh từ năm 1941 khi bác Lê Giản bị đầy sang Châu Phi đến tháng 7 năm 1946 khi vụ án Ôn Như Hầu hoàn toàn bị đập tan và đặt tên sách là "Những ngày sóng gió". Bác Lê Giản đồng ý và tôi tập trung tâm trí, thời gian ngồi viết.
 Khoảng hơn bốn tháng xong bản thảo, tôi đưa bác Lê Giản đọc, ông đọc rất kỹ và hoàn toàn đồng ý chỉ sửa chữa bổ sung mấy chi tiết cho chính xác rồi đánh máy làm mấy bản. Điều mà cả hai chúng tôi đều hài lòng là nội dung bản thảo không hề đề cao cá nhân, phản ánh trung thực bối cảnh, sự kiện và con người lịch sử với những phân tích, nhận định, đánh giá khách quan trên cơ sở tư liệu khoa học. Sau đó bản thảo được gửi tới bác Học Phi và những nhân chứng được viết trong hồi ký đọc, góp ý, bổ sung, hoàn chỉnh.
 Công việc đến đây coi như thuận lợi, nhưng đến khi xuất bản lại không đơn giản. Hồi ấy theo quy định mọi bản thảo hồi ký cách mạng đều phải gửi đến Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương để rà soát tài liệu và thẩm định nội dung. Phụ trách việc này là đồng chí Nguyễn Phùng. Gần hai năm chờ đợi chúng tôi không được hồi âm. Hai lần tôi gặp trực tiếp hỏi chỉ được đồng chí Nguyễn Phùng trả lời: "Phải chờ ý kiến của các vụ chuyên môn rồi mới tập hợp đánh giá và quyết định". Lại chờ. Nhưng rồi một lần ngồi trao đổi, không biết vô tình hay cố ý đồng chí Nguyễn Phùng nói: "Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước chưa viết hồi ký, ông Lê Giản là gì mà có hồi ký". À, ra thế. Khi tôi nói lại việc này với bác Lê Giản, ngồi trầm ngâm một lát, bác bảo tôi: "Mình muốn thay mặt những anh em đã mất hoặc còn sống kể lại những sự việc đã diễn ra để cung cấp tài liệu lịch sử cho Đảng, cho nhân dân chứ đâu vì danh vọng cá nhân. Anh ta đã nói thế thì chú lấy bản thảo về". Tôi nhẹ nhàng: "Được, việc này bác cứ để em lo". Tôi kể lại với bác Học Phi. Bác Học Phi hẹn tôi chiều hôm sau, chủ nhật, đem theo bản thảo "Những ngày sóng gió" cùng bác đến nhà đồng chí Đào Duy Tùng ở ngõ Phan Chu Trinh. Đồng chí Đào Duy Tùng khi đó là uỷ viên Trung ương Đảng, trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương tiếp chúng tôi rất chu đáo. Sau khi nghe bác Học Phi và tôi trao đổi, đồng chí Đào Duy Tùng nhận bản thảo và hứa sẽ đọc ngay. Khoảng một tháng sau tôi nhận được điện của đồng chí Hoàng Tùng, Bí thư Trung ương Đảng phụ trách khối tư tưởng văn hoá kiêm Tổng biên tập Báo Nhân dân mời sang làm việc. Tôi ngạc nhiên không hiểu có chuyện gì. Khi gặp ông mới biết bản thảo "Những ngày sóng gió” đồng chí Đào Duy Tùng đã đọc, thấy tốt chuyển lên đồng chí Hoàng Tùng. Đồng chí Hoàng Tùng đọc thấy tốt, nhưng còn băn khoăn hai vụ việc. Vụ thứ nhất là một phi đội máy bay chiến đấu của quân đồng minh vào oanh tạc mục tiêu quân sự của Nhật ở Cao Bằng. Một chiếc trúng đạn bốc cháy, phi công nhảy dù rơi xuống. Bọn Nhật tập trung quây lùng, nhưng viên phi công đã được các đồng chí của ta cứu và cấp tốc báo về Trung ương. Được tin Bác Hồ chỉ thị phải bảo vệ chu đáo và đưa lên Bác gặp. Viên phi công tên là Saw, người Mỹ, đeo lon trung uý. Bác đích thân nói chuyện với trung uý Saw rồi sau đó mấy hôm Bác đưa hắn qua biên giới gặp viên tướng Mỹ là Sê-nôn đại diện lực lượng đồng minh trên đất Trung Quốc. Trong cuộc gặp gỡ này hai bên thương lượng, Sê-nôn hứa sẽ cử một số võ quan sang huấn luyện và trang bị vũ khí giúp ta một đơn vị chống phát xít gọi là "Đội quân Việt-Mỹ". Vì quan hệ ngoại giao của ta và Mỹ lúc này có những vấn đề rất tế nhị, nên ý đồng chí Hoàng Tùng muốn viết lại sao cho khôn khéo hơn. Vụ thứ hai là năm 1945, trong lúc trên đất nước ta có hai chục vạn quân Tầu Tưởng do Lư Hán chỉ huy, hàng vạn quân Anh, Ấn và cả Pháp nhân danh đồng minh chiếm đóng, chính quyền của ta còn quá non trẻ, lực lượng ta còn quá yếu, thì mấy chiến sĩ Việt Minh bất chấp quy định liều lĩnh phục kích giết một lúc cả tiểu đội quân Tầu Tưởng để cướp vũ khí. Tưởng trót lọt, nào ngờ trên thuyền có một tên người Hoa sinh sống ở Chèm làm tay sai cho giặc lao xuống sông trốn thoát. Nó đến tận văn phòng Lư Hán báo cáo tường tận từng chiến sĩ Việt Minh của ta.
 Lư Hán tức lồng lộn mời Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thông báo và phản đối. Nó yêu cầu phải xử tử những thủ phạm. Nếu không nó sẽ buộc tội Việt Minh tấn công quân đồng minh và yêu cầu đồng minh can thiệp. Tình thế rất căng thẳng. Nhất là quân Tầu Tưởng vào miền Bắc nước ta lúc đó mang theo ý đồ "Diệt cộng, cầm Hồ" (diệt cộng sản, bắt Hồ Chí Minh). Bởi thế một phần để giải toả áp lực và không bị lợi dụng từ phía Lư Hán, phần để giữ nghiêm kỷ luật quân đội cách mạng, đặc biệt để tránh đối đầu với gần nửa triệu quân đồng minh bảo vệ chính quyền non trẻ, ta buộc phải chấp nhận.
 Đồng chí Hoàng Tùng cũng yêu cầu viết lại đoạn này cho khéo.
 Tôi tiếp thu về bàn với bác Lê Giản. Bác Lê Giản đồng ý. Tôi sửa lại xong đem đến gặp đồng chí Hoàng Tùng. Xem xong đồng chí cho thư ký chuyển cho đồng chí Phan Hiền cục trưởng Cục Xuất bản với lời ghi: "Bản thảo tốt, yêu cầu cho in ngay “. Hôm sau đồng chí Phan Hiền giao bản thảo cho Nhà xuất bản Thanh Niên thực hiện. Sách được ấn hành ngay trong tháng 2 năm 1985 với số lượng một vạn hai ngàn quyển.
 Sách ra người đầu tiên bác Lê Giản tặng là tôi với những dòng chân tình: "Đắc Trung ơi! Có truyền thuyết rằng cặp vợ chồng nào được mười con thì đến Hồ Tây gọi trâu vàng lên, dắt trâu vàng về. Vợ chồng mình hiếm hoi mới có chín con, nay có "Những ngày sóng gió" nữa là đứa con thứ mười để đến Hồ Tây gọi trâu vàng. Cám ơn Đắc Trung đã cho mình cả con ngoan lẫn của quý, hơn thế còn cho mình một tình bạn theo đúng nghĩa chân chính của nó, mặc dù tuổi đời đôi bạn này cách nhau dễ đến một phần tư thế kỷ. Từ nay mãi mãi gắn bó với nhau Lê Giản - Đắc Trung". Tôi vô cùng cảm động trước lời đề tặng này. Có hiểu bác Lê Giản mới thấm thía và đánh giá đúng ý nghĩa những dòng tâm huyết ấy.
 Năm 2000 Nhà xuất bản Công an nhân dân tái bản và năm 2004 Nhà xuất bản Thanh Niên tái bản lần thứ ba. Lần này chúng tôi bổ sung thêm một phần gồm bốn chương viết về tuổi niên thiếu của tác giả và quá trình giác ngộ đi theo cách mạng cùng một số ảnh tư liệu qúy, giấy tốt, bìa đẹp.
 Lúc này, ở tuổi ngoài chín mươi, sức khoẻ quá yếu, bác Lê Giản đang phải chống sự với căn bệnh ung thư ở giai đoạn cuối. Nằm trên giường bệnh nhưng từng ngày từng giờ mong "Những ngày sóng gió”. Khi có sách mẫu, tôi mang vào, thấy tôi đôi mắt mệt mỏi già nua bỗng sáng lên. Bác nâng niu ngắm nghiá rồi ấp cuốn sách lên ngực giọng thều thào: "Có cuốn sách này mình sẽ sống thêm một tháng nữa. Cám ơn chú nhé". Nhưng rồi chỉ hai tuần sau bác ra đi.
 Tôi vô cùng thương tiếc bác, nhưng cũng thấy lòng thanh thản vì đã hoàn tất công việc quan trọng đối với người mà tôi ngưỡng mộ. Cuốn sách đó không chỉ là biểu tượng tình cảm của tôi đối với bác Lê Giản mà đó là tất cả sự tôn kính của tôi, của thế hệ chúng tôi đối với các bậc cách mạng tiền bối, những người được Bác Hồ giáo dục rèn luyện, sống với lý tưởng cao cả, lòng yêu nước nồng nàn, kiên trung bất khuất, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
 Gặp được người tâm huyết chí tình chí nghĩa như nhà văn Học Phi, một chiến sĩ cách mạng trung kiên bất khuất, nhân cách cao thượng rất đáng ngưỡng mộ như bác Lê Giản và những người có tấm lòng chân thành giầu trách nhiệm như đồng chí Hoàng Tùng, Đào Duy Tùng tôi mới hoàn thành được "Những ngày sóng gió”.
 Đối với tôi, đó cũng chính là may mắn.
 
3
 
 Lập thân, lập nghiêp, lập danh bằng văn chương. Đó là định hướng cuộc đời tôi và tôi đã đi đúng hướng. Khác chim mông cựu tôi không chọn sai nơi đặt tổ. Khác con hổ khờ dại tôi không đi lầm đường. Trời ban cho một chút năng khiếu, bản thân yêu nghệ thuật, say văn chương và ý chí quyết tâm với cái nghiệp đã chọn. Nếu là nghề thì có thể bỏ nghề này, làm nghề khác. Nhưng đã là nghiệp thì phải thuỷ chung, gắn bó suốt đời. Nhưng tôi làm được những việc mình mong muốn còn nhờ ở sự may mắn. Cám ơn tất cả những gì được coi là ân đức mà kiếp trước và các kiếp trước tôi đã làm, mà bố mẹ, ông bà, cùng các bậc tổ phụ của tôi để lại đã tạo cho tôi may mắn ấy. Cám ơn số phận đã cho tôi được làm người bình thường, thực hiện được khát vọng bình thường, rồi sau này có ra đi cũng mong được ra đi một cách bình thường như chính quy luật của sự bình thường.
                                             Hà Nội, nhà số 10 ngõ 73 Giang Văn Minh, Ba Đình
ĐT:  0913236372

 

 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn