03:23 ICT Thứ năm, 14/12/2017
h

Trang nhất » Tin Tức » Văn Xuôi

Người dịch thơ Phùng Quán sang Hán ngữ (Lan Đình - Mạc Ngọc)

Thứ bảy - 01/07/2017 15:59
 
LTS. Nhà thơ – Kiến trúc sư Vũ Minh Am, hội viên sáng lập Hội VHNT tỉnh Hà Nam Ninh – Nam Hà – Nam Định, hội viên Hội Kiến trúc sư Việt Nam, nguyên Phó giám đốc Công ty Tư vấn Thiết kế tỉnh Nam Định đã qua đời ngày 30 tháng 6 năm 2017, hưởng thọ 86 tuổi. Tang lễ nhà thơ – kiến trúc sư Vũ Minh Am được tổ chức tại nhà riêng, số 78, đường Điện Biên, phường Cửa Bắc, Thành phố Nam Định, an táng tại nghĩa trang quê nhà, thôn Cự Trữ, xã Phương Định, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Các tác phẩm văn, thơ, dịch thuật của ông đã được in trong các tuyển tập lớn, được nhận các giải thưởng văn học ở tỉnh và Trung ương cùng tác phấm kiến trúc của ông phục nguyên “Cột cờ Nam Định” được UBND tỉnh trao giải thưởng đặc biệt.
Văn nghệ Nam Định xin trích đăng “Đôi lời tiễn biệt nhà thơ – Kiến trúc sư Vũ Minh Am về cõi vĩnh hằng” của Bộ Môn thơ Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định cùng bài viết “Người dịch thơ Phùng Quán sang Hán ngữ” của Lan Đình – Mạc Ngọc để tưởng nhớ một tài năng văn chương dịch thuật có nhiều đóng góp vừa từ biệt chúng ta. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.



Chân dung Nhà thơ, Kiến trúc sư Vũ Minh Am (1932 - 2017)
(Nguồn: Kỷ yếu VNS Nam Định 2006-2011)


 
Đôi lời tiễn biệt Nhà thơ – Kiến trúc sư Vũ Minh Am
về cõi vĩnh hằng

 
                                  (Trích - Bài viết do nhà thơ Phạm Trọng Thanh chấp bút)

 
Hôm nay, một ngày mà gia đình, người thân, bà con tổ dân phố cùng bạn bè đồng nghiệp gần xa cùng tề tựu về đây thành kính nghiêng mình tiễn đưa một trí thức nghệ sĩ – một nhà thơ đức độ – một dịch giả tài năng về nơi an nghỉ cuối cùng trong niềm ngưỡng vọng tiếc thương bậc trưởng thượng Vũ Minh Am – một đại thụ trong thế hệ những cây bút vàng của Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định, một kiến trúc sư tài năng - nguyên Phó Giám đốc Công Ty tư vấn Kiến trúc tỉnh Nam Định đã từ biệt chúng ta!
Sinh trưởng trong một gia đình trung lưu có truyền thống Nho học và văn học, giàu tình yêu quê hương đất nước, ông là cây bút của quê hương Nam Định đã có những sáng tác đầu tay trong kháng chiến chống Pháp, nhận tặng thưởng báo Văn nghệ  năm 1962 với truyện ngắn “Những chú bé đánh giày ở Bô-kê” – tặng  thưởng văn học đưa ông tiếp cận với bạn bè văn chương cả nước.
Những ngày thành phố Nam Định đương đầu với cuộc chiến tranh leo thang ác liệt của không lực Hoa Kỳ, kiến trúc sư Vũ Minh Am bám trụ trực chiến cùng cơ quan. Bạn bè thấy ông đầu đội mũ sắt công binh, vai đeo xắc-cốt len lỏi khắp các chiến hào, công sự phòng tuyến để chỉ đạo thi công các công trình thời chiến. Ông viết “Nhật ký công binh”, động viên công nhân tự vệ thành Nam; ông viết kịch bản “Niềm tin” ca ngợi cán bộ công nhân Cảng sông Nam Định những ngày đội bom bám bến chuyến hàng ra tiền tuyến . Trong nỗi nhớ gia đình sơ tán “Không phải sông Tương mà sông Châu/ Hai ta sơ tán ở hai đầu”, nhiều trưa bên căn hầm trực chiến, một mình giữa thành phố vắng lặng, bên cạnh các bản vẽ là những câu thơ ghi vội ký thác niềm tin yêu: “Sân im, cửa đóng, trường sơ tán/ Cỏ mọc bên thềm lấn lối đi/ Cành bàng bom tiện từ thu trước/ Bỗng bật chồi xanh đợi trẻ về”. Rồi đến ngày thơ Vũ Minh Am, bài “Sắc mùa xuân trên bản đồ quy hoạch cùng quân dân thành phố Dệt đường hoàng bước lên giữa ngày hội đoàn viên chiến thắng:
“Từ chiến hào bước lên, đầu súng chạm nhành hoa/ Thành phố Dệt thay áo mùa xuân cho bản đồ quy hoạch/ Dẫu bom đạn còn sạm đen vôi gạch/ Ta vẫn dư màu sắc để trang hoàng” thật là hào sảng!


 

Cột cờ Nam Định (1997) - Tác phẩm của Kiến trúc sư, nhà thơ Vũ Minh  Am (Ảnh: Tư liệu)
 
Năm 1996-1997, Kiến trúc sư Vũ Minh Am được giao nhiệm vụ khảo sát, thiết kế, chỉ đạo thi công phục nguyên công trình văn hóa lịch sử Cột Cờ Nam Định  bị tên lửa Mỹ bắn sập từ mùa hè năm 1972. Ông gửi vào đây bao nhiêu tâm huyết, tài năng, công sức, có bữa quên ăn. Câu lục bát  bạn bè ứng tác tặng ông về việc này ngày ấy còn đó: “Người đi xây dựng Cột Cờ/ Quên ngày sinh nhật quên giờ liên hoan”. Cột Cờ Nam Định phục nguyên lồng lộng dưới trời tung bay cờ Tổ quốc - một tượng đài bất khuất của quân và dân Thành Nam anh hùng, một tác phẩm kiến trúc toàn bích  của tác giả Vũ Minh Am được UBND tỉnh Nam Định trao tặng giải thưởng đặc biệt.
Thuộc Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Thơ Đường, Kinh Thi, Kinh Lễ... ông tham gia dịch và hiệu đính các tập: Tam nguyên Trần Bích San,. Cuộc đời và tác phẩm, Nhà thơ yêu nước Bùi Văn Dị, Hoàng giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị, Tổng tập Văn học Việt Nam số 19, Tuyển thơ các vua Trần. Ông được Hội VHNT tỉnh Nam Hà tặng giải thưởng dịch thuật xuất sắc năm 1996, phần dịch thơ Trần Bích San trong Mai Nham thi thảo, giải thưởng cuộc thi dịch thơ chữ Hán năm 1999 do tạp chí Văn học nước ngoài, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức.
Ông là một trong những bậc “hay chữ’, “văn hay chữ tốt” của Hội, là tác giả của nhiều câu đối chữ Hán, chữ Quốc ngữ trên các số báo, tạp chí số Xuân. Bút tích của ông lưu trên các bức thư pháp uyển chuyển tặng anh em bạn bè chí thiết, và  trên câu đối bộ môn Thơ của Hội VHNT tỉnh Nam Định dâng tặng nhà lưu niệm nhà thơ Trần Tế Xương năm 2000, tại 280, phố Hàng Nâu Nam Định: An đắc thiên vạn gian, tịnh vô hàn sĩ/ Thường như nhị tam nguyệt, hà tất Thiên Thai”- câu đối nguyên tác của cụ Tú thành Nam, còn chữ viết trang trọng là của một người trọng đạo nghĩa,  chu toàn mọi việc với gia đình, những người thân, bạn bè đồng nghiệp: nhà thơ Vũ Minh Am. Các tác phẩm thơ, truyện của ông có mặt trong nhiều tuyển tập lớn đã xuất bản. Các tập thơ: Quả đương mùa, in chung, Giải thưởng Nguyễn Khuyến, đợt I (1986), Lặng lẽ tình yêu, Giải thưởng Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2005, giải thưởng Lương Thế Vinh tỉnh Nam Định đợt I (2006). Các thi phẩm Vũ Minh Am cho thấy một phong cách thơ trang nhã, tinh tế, hồn hậu, tin yêu cuộc đời. Kiến trúc sư – Nhà thơ Vũ Minh Am trọn đời nêu một tấm gương sáng về học tập, công tác, lao động sáng tạo văn học nghệ thuật với một lối sống cao đẹp.
Ông thuộc về những không gian nghệ thuật kiến trúc cổ giàu bản sắc Việt Nam đến những công trình kiến trúc “màu da trúc sử thi” hiện đại. Ông thuộc về không gian nghệ thuật thơ, từ thi ca cổ điển trong Ba lần qua Hải Vân của cụ Trần Bích San: Văn phi sơn thủy vô kỳ khí/ Nhân bất phong sương vị lão tài đến những vần tứ tuyệt tao nhã ông viết tặng một nhành mai – gửi tặng bạn đọc mà ông trọn đời yêu quý : “Cành mai thu muộn còn xơ xác/ Giờ đã đơm hoa trắng trắng ngần/ Ví suốt mùa đông mình trễ nải/ Lấy gì để nói với mùa xuân?” Các tác phẩm xuất sắc của ông sẽ còn lại mãi với cuộc đời này.
Bộ môn Thơ Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định thành kính dâng lên Ông lòng ngưỡng mộ cùng niềm tiếc thương vô hạn!
Xin bái biệt người Anh lớnNhà thơ Vũ Minh Am!  

 
Thành phố Nam Định, ngày  1/ 7/ 2017                           
 

Người dịch thơ Phùng Quán
sang Hán ngữ

 
        Lan Đình - Mạc Ngọc
 
Một trong số ít người am hiểu Hán Nôm còn lại ở Nam Định là tác giả Vũ Minh Am. Ông là hội viên Hội Kiến trúc sư Việt Nam, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hà Nam Ninh - Nam Hà - Nam Định từ năm 1977.
Kiến trúc sư Vũ Minh Am là tác giả công trình phục nguyên Cột Cờ Nam Định năm 1997. Công trình lịch sử - văn hóa thành Nam được xây dựng năm 1841, đời vua Thiệu Trị, triều Nguyễn, bị tên lửa Mỹ bắn sập năm 1972. Trên nền phế tích đổ nát hoang tàn, Vũ Minh Am dồn tâm huyết, trí tuệ , đầu tư thời gian đọc lại các tài liệu gốc từ chữ Hán, tiếng Pháp, ảnh tư liệu và sau nhiều ngày khảo sát thực địa để có một bản thiết kế hoàn chỉnh được Hội đồng giám định thông qua. Ông tham gia chỉ đạo thi công từ ngày khởi công, một nắng hai sương tại công trường với đội ngũ cán bộ công nhân xây dựng cho một công trình trọng điểm được nhiều người mong chờ. Sau chót, Cột Cờ Nam Định hồi sinh vút lên đột khởi uy nghi, mang tầm vóc một tượng đài chiến thắng của quân và dân thành phố Nam Định. Tác phẩm thiết kế xuất sắc của ông được nhận giải thưởng kiến trúc của Tỉnh năm 1997.
Về văn chương, ông có truyện ngắn Chú bé đánh giày ở Bô-kê, tặng thưởng báo Văn nghệ năm 1962. Truyện viết năm 1961, nay đọc lại vẫn thấy tươi tắn, hồn nhiên, nhẹ nhàng mà sâu sắc. Nhân vật chính là chú bé Yếc-sin có bố là lính thủy, mẹ là thợ giặt thuê, nhà ở khu phố ngoại ô thành phố nhỏ Bô-kê nước Ghi-nê, cách thủ đô Cô-na-cơ-ri gần hai trăm cây số. Em là chú bé đánh giày lanh lợi, nói tiếng Pháp khá nhất trong “cái thế giới” các chú bé đánh giày ở công viên kề khách sạn thành phố Bô-kê. Yếc-sin từng bị lão Giăng cá sấu quan chức thực dân cũ đánh đập tàn nhẫn khi lỡ chân đá bóng trúng vào cửa kính nhà lão. Nhân vật thứ hai xuất hiện từ đầu truyện: ông khách “da vàng như bánh mì”, ăn mặc không cầu kỳ, đi giày đen, giao tiếp ân cần, lịch sự, lọt vào tầm ngắm của các chú bé. Sau một hồi tìm hiểu, các chú được biết, ông khách da vàng là thày giáo người Việt Nam, được bác Hồ Chí Minh cử sang Ghi-nê dạy học ở trường trung học cạnh nhà thờ thành phố, theo lời mời của Tổng thống Xê-cu Tu-rê. Mọi người gọi ông là “ông giáo Điên-Biên-Phủ”. Khác hẳn với lão Giăng cá sấu khinh bỉ người da đen, ông giáo Điện Biên Phủ thân thiện, tốt bụng. Đám trẻ đánh giày nghèo khổ có cảm tình với ông. Rồi một việc không mong muốn đã xảy ra. Trưa hôm ấy vắng khách, các chú bé đánh giày bày trận bóng đường phố. Đúng lúc Yếc-sin tung cú sút dứt điểm thì ông giáo Việt Nam xuất hiện và hứng trọn quả bóng của em. Đám trẻ hoảng hốt nhưng ông giáo lại tươi cười dừng lại, lượm rồi ném trả các chú quả bóng và nói: “Cứ tiếp tục đi, các cầu thủ tí hon của tôi!”
Để giải quyết vụ việc này các chú bé đùn đẩy nhau và đi đến quyết định: giao cho Yếc-sin phải tìm gặp ông giáo Điện Biên Phủ nói lời xin lỗi và phải đánh giày cho ông giáo nhưng không được lấy tiền. Tác giả khéo miêu tả tâm lý, tình thế, dẫn dắt mạch truyện hấp dẫn, linh hoạt dẫn đến cái kết thật ngay ngắn: Ông giáo Điện Biên Phủ, qua việc tiếp xúc với cậu bé Yếc-sin, trở thành thầy giáo dạy các chú bé đánh giày thất học trong một lớp học riêng vào các buổi tối thứ ba, thứ sáu hàng tuần ở thành phố nhỏ Bô-kê.
Công việc bận rộn của một kiến trúc sư thời chiến ở cơ quan thường trực xây dựng một thành phố bị máy bay Mỹ oanh kích trên 200 trận bom, rôc-két... không cho Vũ Minh Am có nhiều thì giờ bên bàn viết. May sao, ông còn có có sở trường về thơ. Tập thơ Quả đương mùa (in chung), giải thưởng Nguyễn Khuyến tỉnh Hà Nam Ninh năm 1986; tập thơ Lặng lẽ tình yêu, Giải thưởng Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2004, giải thưởng Lương Thế Vinh tỉnh Nam Định năm 2006.
Ông còn tham gia dịch thuật và hiệu đính các tập Tam Nguyên Trần Bích San, cuộc đời và tác phẩm, Nhà thơ yêu nước Bùi Văn Dị, Hoàng giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị, Tổng tập Văn học Việt Nam số 19, Tuyển thơ các vua Trần. Ông được Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Hà tặng Giải thưởng dịch thuật xuất sắc năm 1996 phần dịch thơ Trần Bích San trong tập Mai Nham thi thảo,  tạp chí Văn học nước ngoài Hội Nhà văn Việt Nam tặng giải thưởng cuộc thi dịch thơ chữ Hán năm 1999.
Vũ Minh Am hay chữ, là tác giả của nhiều câu đối  trên báo , tạp chí số Tết ở địa phương. Ông cũng hay “cho chữ” bạn bè, những bức thư pháp nền nã trên giấy dó với những bài thơ của các danh sĩ. Đôi câu đối phục chế tại nhà lưu niệm nhà thơ Tú Xương, 280 Hàng Nâu, Nam Định do bộ môn Thơ Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định cung tiến năm 2000, câu đối của cụ Tú viết trên tường nhà năm 1895, bị bom làm hỏng, thư pháp phục chế của Vũ Minh Am:
An đắc thiên vạn gian, tịnh vô hàn sĩ
Thường như nhị tam nguyệt, hà tất Thiên thai     
 Mùa hè năm 2004, trong chuyến đi thực tế của Bộ môn Thơ Nam Định thăm Lam Kinh, thành nhà Hồ,  thăm làng Hoàng Trù, làng Kim Liên, quê Bác , về dâng hương khu tưởng niệm, viếng mộ đại thi hào Nguyễn Du, Vũ Minh Am giúp cho các bạn thơ có dịp hiểu thêm những đại tự, câu đối chữ Hán tôn vinh các danh nhân văn hóa miền đất học Thanh Nghệ Tĩnh. Sau lễ dâng hương đền thờ Lê Thái Tổ ở Lam Kinh, Vũ Minh Am nán lại trao đổi ân cần với người thủ từ giữ cửa đền, đề nghị sửa một chữ viết sai trong đôi câu đối của một nhà hảo tâm ở Hà Nội cung tiến. Từ “bình Ngô”, chữ “Ngô” chỉ giặc Ngô trên câu đối sơn then thếp vàng, vị thư pháp nào đó đã viết thành chữ “ngô”ta. Người thủ từ đã tiếp thu ý kiến và bắt tay cảm ơn ông. Trong chuyến viễn du khu Bốn nhiều danh thắng, các thi hữu Nam Định nghỉ chân tại khách sạn Thiên Ân, Cửa Lò, Nghệ An. Chủ khách sạn là người lịch sự, biết ứng xử, khiến các vị khách thơ đất Thiên Trường vừa ý. Anh em thơ đồng thanh mời Vũ đại huynh Minh Am  “cho chữ” để đoàn lên đường. Vũ Minh Am mỉm cười. Ông thong thả đứng lên giữa bạn bè anh em, trước người chủ khách sạn ngồi ở bàn đối diện. Thế rồi ông đọc ngay tại phòng khách tầng thượng nơi ly cốc sóng hàng khách sạn Thiên Ân:
Thiên Ân do luyến Thiên Trường khách
Nghệ Tĩnh lưu tình nghệ thuật nhân
Câu đối ứng tác chững chạc, nghệ thuật chơi chữ tự nhiên, không gượng ép. Mọi người vỗ tay tán thưởng. Buổi hội ngộ tại Cửa Lò xứ Nghệ thật là vui.
Vũ Minh Am quen thân nhà thơ Phùng Quán từ ngày ông được báo Văn nghệ đăng truyện ngắn Những chú bé đánh giày ở Bô-kê và nhận tặng thưởng truyện ngắn hay của báo. Hai người cùng tuổi Nhâm Thân, 1932. Ông nhà thơ họ Phùng, quê Hương Thủy, Thừa Thiên, sinh tháng Giêng. Ông kiến trúc sư họ Vũ quê Trực Ninh, Nam Định, sinh tháng Tám. Những năm Vũ Minh Am tu nghiệp đại học ở Hà Nội, ông có những cuộc hẹn hò rượu thơ với ông “Tư Mã Nghi Tàm” bên Hồ Tây, khá tương đắc. Vũ Minh Am nể phục tài thơ Phùng thi sĩ, mấy lần mời Phùng Quán về chơi Nam Định. Phùng Quán cũng nể Vũ Minh Am về tính cách điềm đạm mà sâu sắc cùng năng lực thẩm định thơ và tình thơ của ông. Thơ Đường, thơ chữ Hán Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến ...Vũ Minh Am nhập tâm nhiều bài, đọc nguyên tác, phân tích các bản dịch của các nhà thật trôi chảy.
Một lần, trong tiệc rượu bạn bè trên căn gác nhỏ, tại nhà riêng Vũ Minh Am, đường Cổng Hậu thành phố Nam Định, lúc cao hứng, Phùng Quán muốn thử tài “ông đồ tân thời tỉnh Nam”. Thi nhân nâng cốc mời Vũ Minh Am với một đề nghị thân tình, mời ông bạn kiến trúc sư dịch giúp một bài thơ của mình sang Hán ngữ. Vũ Minh Am ngồi nghiêm ngắn, mắt sáng lên nhìn ông bạn đồng nghiệp ngành xây dựng bên mâm rượu với ông em - nhà thơ  Vũ Quốc Ái gương mặt đầy hứng khởi, ông nhận ra sự khích lệ từ họ. Rồi ông đăm đăm nhìn gương mặt phong trần, chòm râu đẹp nhà thơ Phùng Quán và gật đầu xin mời Phùng thi nhân “ra đề”. Phùng Quán giọng Huế, đọc bài thơ bốn câu như sông Hương dậy sóng Nam bình:
Trăng
Trăng du đãng ngủ nhờ thềm lạnh
Muốn mời vào nhà không chiếu chăn
Tỉnh dậy, trăng đi còn gửi lại
Nước mắt đầy thềm tạ cố nhân.
                                               PHÙNG QUÁN
Tất cả im lặng. Một không gian “thiền thơ” đây chăng. Vũ Minh Am đứng dậy. Ông đến bên bàn làm việc, cầm giấy bút ngồi vào ghế và viết. Mọi người im lặng chờ, không ai ho he điều gì hệt như nghi thức của nghệ thuật siêu ứng tác nào đó:“Không gian như có dây tơ/ Bước đi sẽ đứt động hờ sẽ tiêu” (Xuân Diệu). Chỉ có tiếng còi xe toe toe ngoài đường Cổng Hậu nói rằng mọi sự trên đời vẫn thông thoáng. Một ngày hè thành phố Dệt đang ngà ngà say với hiệu còi nhà máy tầm trưa u..u..dài giọng.
- Xong rồi! Vũ Minh Am với bản dịch thơ đã “hoàn công”. Ông bước ra tươi tỉnh ngồi xếp bằng tròn xuống chiếu thơ, tay cầm bản dịch thơ mới ra lò. Rượu nếp Kiên Lao lại được rót đều sóng sánh các chén sứ. Bản dịch được người dịch đọc lên:
Nguyệt
Đãng nguyệt cô miên tá lãnh đình,
Hiềm vô chiên tịch bất đương nghinh.
Nguyệt di thảo thượng lưu dư lệ,
Thâm tạ tri âm tống biệt tình.
                                  VŨ MINH AM dịch
Phùng Quán vội đỡ lấy tờ thơ còn tươi nét bút. Mọi người nhìn nhau mặt nở tươi. Bản dịch được chấm điểm mười ngay trên chiếu thơ. Ông dịch giả vẫn điềm tĩnh như không. Ông nhà thơ rưng rưng cúi đầu cảm tạ. Hai ông bắt tay nhau thật chặt và nhìn nhau như mới gặp nhau ngày đầu.
Bài thơ từ thể thơ tự do 4 câu được chuyển dịch thành bài thơ tứ tuyệt hoàn chỉnh. Bản dịch sát nguyên tác ngay từ câu mở đầu đến suốt câu 2 không dễ  gì thay được một chữ: Đãng nguyệt cô miên tá lãnh đình/ Hiềm vô chiên tịch bất đương nghinh. Đặc biệt câu 3,  thật khéo: Nguyệt di (trăng đi); và rất sáng tạo: thảo thượng lưu dư lệ cất cánh từ nước mắt đầy thềm (câu cuối nguyên tác) còn để lại (câu 3 nguyên tác) để hội về câu 4 bản dịch thành câu kết gói trọn ý tứ toàn bài Thâm tạ tri âm tống biệt tình.
 Bản dịch Nguyệt của Vũ Minh Am làm giàu thêm nguyên tác Trăng của Phùng Quán khiến cả hai ông đều đắc ý, hài lòng. Nguyên tác tiếng Việt với bản dịch Hán ngữ bài thơ Trăng – Nguyệt cùng hiện diện trong tuyển tập thơ hoành tráng Nghìn năm thương nhớ, do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội ấn hành năm 2010, nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Những người làm sách có con mắt xanh đáng được ghi nhận.
 
                                                         Thành phố Nam Định, tháng 6/2017        
 
 
 
---------------------------------------
Địa chỉ: PHẠM TRỌNG THANH
Số 6/22, Ngô Quyền, TP Nam Định
Di động: 01276 483 731
Email: phamtrongthanh42@gmail.com
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn