22:40 ICT Chủ nhật, 27/05/2018
h

Trang nhất » Tin Tức » Văn Xuôi

Người trở về từ nghìn dặm Trường Sơn (Phạm Trọng Thanh)

Thứ ba - 01/09/2015 22:28

Người trở về  từ nghìn dặm Trường Sơn*
 
Bút ký của Phạm Trọng Thanh          
 
 
          Tôi quen Vương Văn Kiểm, cán bộ Xưởng phim Quân đội, cựu chiến binh ngay sau ngày anh được nhận giải Nhì cuộc thi thơ do Hội Khuyến học Việt Nam và báo Giáo dục & Thời đại tổ chức tại Hà Nội. Bạn bè Nam Định cho tôi biết, Vương Văn Kiểm có hai người anh, người anh cả là cán bộ lão thành cách mạng của huyện Hải Hậu; người anh thứ hai là cán bộ Binh trạm 12, có quan hệ thân thiết với nhà thơ Phạm Tiến Duật những ngày ở Trường Sơn.
          Thế rồi tôi nhận lời cùng về thăm quê anh, nơi ông anh thứ hai Vương Hạnh đang "trụ trì" cố viên họ Vương ở xóm 8B, xã Hải Đường, Hải Hậu, một xã điển hình xây dựng nông thôn mới của huyện.
          Đường 21 xuôi về đất biển mấy năm nay đã được nâng cấp toàn tuyến, xe đi như ru. Qua cầu sông Ninh, về Cầu Đôi, Yên Định  rẽ sang Hải Đường... Đất Tứ Trùng Nam xưa, vẫn con sông Đối trữ tình của người giũ lụa, hong tơ chợ Lương thuở nào, nơi vành vạnh vành trăng bóng nón người thương đi về mấy nhịp cầu Ngói xa xa. Người ta bảo giao thông thuận tiện là sự khởi đầu của mọi khởi đầu ăn ra làm nên của một đất nước, một miền quê. Đây con đường "trục hoành" láng nhựa thẳng tắp vuông góc với con đường "trục tung" trong qui hoạch khẩn điền của các cụ thuở xưa. Đường làng nay đã mở rộng trải nhựa, đôi bên vun vút bóng cau, xuề xòa bóng chuối, vườn tược kề đồng  lúa xanh ngút mắt. Xe qua cây cầu mới xây, qua cổng trụ sở Ủy ban Nhân dân xã. Ngõ quê vẫn đó, rợp bóng nhãn cổ thụ, lối vào khuôn viên kề khoảng sân lát gạch là vườn cây trước nhà. Đại tá Vương Hạnh dáng dấp một ông giáo làng râu tóc lơ phơ, thong thả dạo trước hiên. Phu nhân của ông, bà Trần Thị Mai đã ở tuổi tám mươi vẫn còn tinh anh, ra ngõ chào đón chúng tôi.

 

Đại tá Vương Hạnh và bà Trần Thị Mai
 
          Ngôi từ đường họ Vương, nơi chúng tôi xin được lên làm lễ dâng hương, sóng hàng câu đối chữ nổi trên cột tiền sảnh, ghi nhớ công lao tiền nhân từ thời tứ tổ "Trần, Vũ, Phạm, Hoàng" về đây quai đê lấn biển lập ấp, mở ra huyện Hải Hậu thuộc trấn Sơn Nam Hạ từ hơn năm trăm năm trước. Đây là nơi các bậc tiền bối họ Vương góp sức: "Tiên tổ vun nền mở mang Hải Ấp/ Cháu con trọng nghĩa khởi nghiệp Quần Phương".
          Anh Vương Văn Kiểm giới thiệu tôi với ông anh, bà chị của mình. Có khách cùng em trai về chơi, ông bà Vương Hạnh vui lắm. Bà dắt xe đạp đi chợ Hải Đường. Ông thong thả pha trà, ân cần hỏi em chuyện học hành, công tác của các cháu. Vị đại tá hỏi tôi việc các đồng nghiệp trong Hội Nhà văn Việt Nam cùng anh em văn nghệ tỉnh Phú Thọ và những người thân lập nhà lưu niệm nhà thơ Phạm Tiến Duật tại đất Tổ quê nhà. Nghe xong, ông bảo: "Làm được thế là mừng". Ông dành cho chúng tôi buổi sáng đẹp trời, ôn lại những năm tháng trận mạc còn nguyên trong ký ức vị chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn huyện Hải Hậu.
          Câu chuyện đưa chúng tôi về mái rạ nghèo thuở xưa, một gia đình nông dân vất vả quanh năm chỉ tạm đủ ăn. Thế nhưng cha mẹ theo nền nếp gia giáo, trọng việc học hành, thắt lưng buộc bụng cho các con lần lượt cuốc bộ lên trường huyện theo đòi sách bút.
          Người anh cả là Vương Tộ, học giỏi, đỗ loại ưu trường huyện, rồi đậu Tú tài trường Bưởi. Ông là học trò của thầy Võ Nguyên Giáp khi  Đại tướng dạy sử ở trường Bưởi. Vương Tộ tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1942. Ông là một trong những cán bộ tổ chức lực lượng quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Trực Ninh; tiếp đó, kéo nhau về tước ấn tín Tri huyện, thành lập chính quyền lâm thời của huyện Hải Hậu trong Cách mạng tháng 8-1945. Vương Tộ là một trong năm đảng viên Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở huyện Hải Hậu. Ông tham gia thành lập Trung đoàn 34 - Trung đoàn Tất Thắng tỉnh Nam Định. Sau đó, ông được chọn đi đào tạo quân sự ở nước ngoài, trở về thành lập sư đoàn 308, tham gia chiến dịch Biên giới 1950, khai thông Cao-Bắc-Lạng, Đông Khê, Thất Khê. Năm 1951, ông tham gia chiến dịch Hà Nam Ninh. Trong trận chỉ huy đánh bốt chùa Cao, Ninh Bình, ngày 6 tháng 6 năm 1951, Vương Tộ anh dũng hy sinh. Tên tuổi ông được ghi trong bộ Đảng sử huyện Hải Hậu. Di ảnh ông được các em rước về thờ ở từ đường.
          Nối bước anh,Vương Hạnh siêng năng học tập. Năm 11 tuổi, đỗ Sơ học yếu lược loại ưu, được nhận giải Nhất của huyện, rồi phải nghỉ học ở nhà chăn trâu. Đầu năm 1949, may có anh cả Vương Tộ về phép thăm nhà, xin cha cho em đi học tiếp. Năm ấy, trường Nguyễn Khuyến của tỉnh sơ tán về Hải Hậu.Vương Hạnh học vừa qua một học kỳ thì giặc Pháp về chiếm đóng Hải Hậu, phải bỏ học.
          Những ngày tản cư, chị dâu và cháu gái chạy sang Thái Bình. Vương Hạnh được mẹ dồn cho mấy cân gạo, bảo con đi tìm chị dâu và cháu. Sang Thái Bình, chị và cháu đã lên Việt Bắc.Vương Hạnh tìm đường đi theo rồi lạc lối ở Hòa Bình, không nơi nương tựa. Vương Hạnh đành phải đi ở chăn trâu cho một điền chủ giàu có ở thôn Đồng Bảng, xã Khoan Dụ, huyện Lạc Thủy ba năm với bao nhiêu vất vả. May gặp người anh họ ngoại là Phan Khoát, y tá quân đội trên đường công tác qua đây, Vương Hạnh được anh dẫn đường giao liên qua vùng địch tạm chiếm chỉ lối cho em về quê. 
          Năm 1952, Vương Hạnh về nhà,  khi ấy Hải Hậu là vùng du kích tự do, anh được địa phương giao việc dạy lớp 2 tiểu học kiêm Trưởng ban Bình dân học vụ xã. Rồi lập gia đình theo ý hai họ đôi bên Hải Đường, Hải Phong       gây dựng.                     
          Tháng 6 năm 1954, Vương Hạnh nhập ngũ trong cuộc vận động tòng quân khi vừa hai mươi tuổi. Qua huấn luyện, được biên chế về trung đoàn 64, sư đoàn 320, làm giáo viên dạy học trong đơn vị. Năm 1960, Vương Hạnh được chọn đi học Trường sĩ quan Hậu cần, được giữ lại công tác ở trường 5 năm. Khi ấy, con đường "nghìn dặm Trường Sơn" đang mở ra phía trước người sĩ quan ba mươi tuổi.
          Tháng 5 năm 1965, Vương Hạnh được điều động vào chiến trường nhận công tác quân vận ở Ban chính trị, làm cán bộ trợ lý chính sách, Binh trạm 12, đường 559. Ông được thăng quân hàm trung úy. Bản doanh Binh trạm đặt ở xã Hóa Tiến, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình, trên tuyến vận tải chi viện chiến trường miền Nam. Binh trạm 12 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Binh trạm trưởng thiếu tá Nguyễn Đàm, chính ủy Nguyễn Việt Phương. Một đồng chí cán bộ Bộ Giao thông Vận tải được tăng cường làm Binh trạm phó. Thời điểm ấy, đây là tuyến vận tải vượt khẩu duy nhất từ Khe Ve theo đường 12, qua đèo Mụ Giạ, nối sang đường 128 trên đất bạn Lào, vượt Seng Phan, vào tuyến trong...Trên tuyến huyết mạch này, máy bay địch tập trung đánh phá ác liệt hòng cắt đứt con đường vận tải của ta. Khe Ve, Seng Phan ngày ấy là những "túi bom" tọa độ, bom từ trường, bom phá, bom bi. Trời đêm nhòe nhoẹt pháo sáng, hầm hào, rừng núi đất đá rung chuyển ầm ầm. Những đoàn xe vận tải trùm vải bạt, cành lá ngụy trang xùm xòa chờ lệnh thông đường xuất kích. Những chiến sĩ lái xe mũ sắt, áo giáp vững vàng tay lái chở súng đạn, chở gạo...Phía trước các anh các mặt trận tiền tuyến đang chờ. Ở trọng điểm này, để đảm bảo thông tuyến, các đơn vị công binh, pháo cao xạ, thông tin, quân y, thanh niên xung phong ngày đêm trực chiến bất kể bom đạn, mưa nắng, sẵng sàng nhận lệnh. Mỗi thước đường ở đây thấm đẫm mồ hôi và cả máu của tuổi trẻ bao miền quê trên hành trình gian khổ mà hào hùng "theo ánh lửa trái tim mình" vào tuyến lửa tiền phương chung tay góp sức, viết nên "huyền thoại Trường Sơn" thế kỷ XX.
           Cơ quan Binh trạm bộ điều hành thực hiện kế hoạch vận tải, đảm bảo thông tuyến vận chuyển vũ khí, lương thực vào chiến trường. Các đồng chí được giao nhiệm vụ tổ chức phân công  trực ban, giao ban, cập nhật tình hình chiến sự 24/24 giờ; nắm vững chủ trương của Quân ủy Trung ương, mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh chiến trường, đề xuất, tham mưu với cấp trên những giải pháp tháo gỡ khó khăn, dự báo tình hình, âm mưu và thủ đoạn của địch.
          Công tác chính trị của Binh trạm kết hợp chặt chẽ với các hoạt động Văn hóa Thông tin chiến trường. Và hơn hết, ở đây, là niềm tin yêu đồng đội, tình đồng chí nơi "lửa thử vàng gian nan thử sức". Vương Hạnh là một trong những cán bộ cơ quan Binh trạm có bản lĩnh và năng lực đảm nhiệm công việc được phân công. Tham gia cấp ủy tại mặt trận, làm công tác tổ chức, đồng chí quan tâm sâu sát các đối tượng cảm tình, tổ chức kết nạp, đưa  họ gia nhập Đảng, đứng vào đội ngũ tiên phong của thế hệ thanh niên "ba sẵn sàng" thời đại Hồ Chí Minh "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước".
          Ngày ấy, để phá "thế độc đạo" qua Khe Ve, các lực lượng mở đường Đoàn 559, dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Phan Trọng Tuệ, đã "đồng loạt nổ loạt bộc phá đầu tiên lúc 17 giờ ngày mồng Một Tết Bính Ngọ (22-1-1966), mở màn chiến dịch "Chọc thủng Trường Sơn, mở đường Thắng lợi". Khởi đầu từ Phong Nha, Bố Trạch, Quảng Bình qua trập trùng mây núi Trường Sơn, xuyên rừng già thâm u, vượt dốc cao, vực thẳm với những địa danh thách thức: Đồng Tiền, Trạ Ang, Ba Thang, Khe Diêm, Cà Roòng, Phu La Nhích, nối sang đường 128 tuyến tây Trường Sơn". Đường 20 dài 123 km, vắt qua Trường Sơn, thêm một kỳ công của bộ đội, thanh niên xung phong, cán bộ, kỹ sư, công nhân viên ngành Giao thông Vận tải làm thất bại những toan tính của bộ máy chiến tranh xâm lược tàn bạo từ bờ bên kia Thái Bình Dương.
          Tuy nhiên, thời điểm mở đường 20, tại trọng điểm Khe Ve, máy địch càng điên cuồng oanh kích các mục tiêu. Có đợt tắc đường hàng tháng. Mặt trận không đủ xăng cho xe xuất kích. Các bể ngầm chứa xăng dầu sâu 15 mét dưới mặt đất đã cạn, máy bơm gác vòi. Chiến sĩ ta phải nối thang, quàng dây ngang lưng, đeo khẩu trang, ôm mền bông  áo rét lần xuống thấm lớp xăng cặn dưới đáy bể chứa, đưa lên vắt lấy xăng cho xe chạy cầm chừng. Binh trạm gấp rút thành lập lực lượng xung kích ngày đêm luồn rừng, vượt núi, ra tận kho RH, dùng ba lô lót túi nhựa, chứa xăng, gùi về Binh trạm. Nhiều người vai lưng bỏng rộp, vẫn tình nguyện đi thêm chuyến. Binh trạm 12 còn "dùng cả ống nhựa, ống cao su, nối lại, đặt ngầm chạy qua những đoạn địa hình trống trải" đến nơi giấu xe để có xăng cho những đoàn xe vận tải phương tiện vũ khí hàng hóa kịp lên đường, đảm bảo chi viện cho các mặt trận đủ sức chiến đấu. Đây là một trong những gợi ý cho ý tưởng lớn ra đời sau đó: "kế hoạch thực thi công trình lắp đặt hệ thống đường ống vận chuyển xăng dầu chưa từng có trong lịch sử chiến tranh" - Hệ thống đường ống xuyên lục địa xứng danh "Dòng sông mang lửa" đủ sức cung cấp "nhiên liệu vàng" trong cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại, đánh đuổi đội quân xâm lược sừng sỏ nhất ra khỏi đất nước ta.
          Nhằm tăng cường lực lượng vận tải, tại Binh trạm 12, trung đội nữ lái xe mang tên nữ anh hùng miền Nam Nguyễn Thị Hạnh được hình thành. Binh trạm tuyển lựa 30 nữ thanh niên xung phong trẻ khỏe, đào tạo họ đủ trình độ bước lên ca-bin, vững vàng tay lái chở hàng qua trọng điểm Khe Ve, vượt đỉnh 050, Cổng Trời, qua "túi bom" với những cua vòng "ngổn ngang cây đổ" tới điểm giao hàng. Đây là trung đội nữ lái xe duy nhất trên toàn tuyến đường Trường Sơn. Nhiều cô trở thành nữ quân nhân lái xe xuất sắc, sau những chuyến đi giao hàng trở về an toàn, được đơn vị tặng một đồng hồ đeo tay nữ, mác CHDC Đức, món quà nhỏ mà niềm vui theo suốt chặng đường dài.
          Đầu năm 1967, Vương Hạnh nhận nhiệm vụ đưa đoàn chuyên gia nước bạn gồm 9 người qua trọng điểm Khe Ve ra tuyến ngoài bàn giao cho Đoàn 500. Ra đến gần Khe Ve, do máy bay địch liên tục hoạt động, đoàn phải dừng chân cả tuần ở Trạm giao liên. Trước ngày thông đường, tại cuộc họp giao ban, Vương Hạnh đề nghị với Binh trạm phó - thiếu tá Lê Thanh Bình (phụ trách vận chuyển) sắp xếp đoàn xe phía bắc đi vào tạm dừng 30 phút để chiếc xe đưa đoàn chuyên gia bạn ra tuyến ngoài xuất phát trước. Đề nghị này được Binh trạm phó chấp thuận. Thế nhưng khi có tín hiệu thông đường, đồng chí trợ lý trực chỉ huy vận chuyển chưa kịp thông báo mệnh lệnh của Binh trạm cho Trạm giao thông phía bắc, đã cho đoàn "xe có hàng" đi vào trên 100 xe xuất phát trước. Thế là lỡ việc đã hợp đồng tại cuộc giao ban. Khúc trọng điểm "chữ A" Khe Ve chỉ dài 3 km nhưng đường khúc khuỷu, trơn lầy, xe không thể đi nhanh, phải đến 2 giờ sáng hôm sau, đoàn xe chở hàng phía bắc mới vào hết. Ở vào thế "tiến thoái lưỡng nan", Vương Hạnh đến gặp đoàn trưởng chuyên gia, nhận khuyết điểm về việc hợp đồng sắp xếp xe chưa được chặt chẽ. Ông mời các chuyên gia về Trạm nghỉ để hôm sau đi tiếp. Đoàn trưởng chuyên gia bạn dứt khoát từ chối "quay lại". Theo đề nghị của Vương Hạnh, cả đoàn mắc tăng võng, nghỉ tạm bên lán công binh dã chiến trong khi máy bay địch có thể đến ném bom tọa độ như các đêm trước. Tình thế vô cùng nguy hiểm. Phải đến gần 3 giờ sáng hôm sau, đoàn xe phía bắc mới qua hết trọng điểm. Một sự cố nữa lại xảy ra: chiếc xe "chuyên dụng" chở đoàn chuyên gia trục trặc nặng, không thể nổ máy leo lên mặt đường. Vương Hạnh lập tức điện  xin xe chi viện. Chiếc xe Gat 69 được điều đến. Đồng chí lái xe mở cửa, mời mọi người lên xe. Nhưng...các chuyên gia bạn nhất loạt xua tay từ chối:
          - Chúng tôi không đi loại xe này!
          Vương Hạnh bước tới, tiếp tục đề xuất:
          - Tôi sẽ điện cho Đoàn 500 đưa xe đón các đồng chí ở phía bắc trọng điểm này. Đoàn ta lội bộ qua trọng điểm để lên xe về Trạm phía bắc. Đề xuất của Vương Hạnh được báo cáo về Binh trạm bộ, được Thủ trưởng Binh trạm chuẩn y và Đoàn chuyên gia bạn đồng ý. Tất cả tháo giày dép, lội bộ. Trên vai họ, ba lô hành lý khá nặng. Lúc sắp qua khúc cuối, máy bay địch ào đến thả một loạt bom tọa độ. Tất cả  nằm sát xuống mặt đường để tránh thương vong. Lội bộ hơn hai giờ mới vượt qua trọng điểm Khe Ve. Tới Trạm chỉ huy phía bắc, lại một chiếc xe "Gat 69" ra đón. Lúc này, có lẽ vì quá mệt nên các chuyên gia bạn đều nói "Tốt! Tốt!" rồi vui vẻ lên xe về địa điểm bàn giao của  Đoàn 500 lúc hơn 5 giờ sáng. Vương Hạnh thở phào nhẹ nhõm vì đã xử lý xong một tình huống vô cùng khó khăn, đưa đoàn chuyên gia bạn vượt qua trọng điểm an toàn. Ông quay về Binh trạm, qua ba-ri-e, đã thấy Thủ trưởng tươi cười bước đến bắt tay và nói:
          - Đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc!...
          Cũng tại Binh trạm 12 ngày ấy, Vương Hạnh không quên thành tích đặc biệt xuất sắc của Đại đội 9 nữ thanh niên xung phong Nguyễn Thị Huế trong các năm 1966, 1967, 1968...Họ là một tập thể không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào, sẵn sàng có mặt ở trọng điểm san lấp hố bom, bám đường thông tuyến, cảnh giới....Tham gia vận chuyển, bốc xếp hàng hóa, nhiên liệu, vật liệu luôn vượt chỉ tiêu. Phối hợp với công binh, mở đường tránh dài hàng chục km trong rừng sâu để xe tăng, trọng pháo của ta qua trọng điểm vào nơi bí mật an toàn, chuẩn bị cho chiến dịch Khe Sanh năm 1968. Đại đội trưởng Nguyễn Thị Huế và Đại đội 9 nữ Thanh niên xung phong của chị cùng được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

 
          Sau khi hoàn thành nhiệm vụ vận tải mùa khô năm 1971-1972, tháng 3-1972, theo kế hoạch Bộ Tư lệnh 559 giao, Binh trạm 12 được lệnh cơ động sang hướng đông Trường Sơn để phục vụ các sư đoàn chủ lực của Bộ và Mặt trận B5 - đồng chí Song Hào làm chính ủy Mặt trận B5 thời điểm ấy. Vương Hạnh được giao nhiệm vụ chỉ huy Tiền phương, tổ chức thực hiện việc tiếp nhận hàng tại Mai Lộc (nam đường 9) và đẩy hàng vào khu vực tây Thừa Thiên phục vụ bộ đội. Lực lượng cơ động Binh trạm giao cho gồm: 1 tiểu đoàn xe, 1 đại đội công binh, 1 kho dã chiến, 1 đội phẫu thuật và cơ quan chỉ huy tiền phương có 5 đồng chí.
           Hướng vận chuyển ban đầu chỉ có một mục tiêu là khai thác con đường dã chiến Mỹ - Ngụy để lại: men theo dãy núi đất phía tây Mai Lộc, qua ngầm Thịnh Tất (thượng nguồn sông Ba Lòng) leo lên đồi tới đỉnh động Ông Do và xuống khu rừng tây Thừa Thiên để giao hàng cho các đơn vị. Nếu bị trục trặc kỹ thuật hoặc giao hàng muộn, phải nằm lại dọc đường coi như mất xe. Còn việc ép xe vào ta-luy ngụy trang, chỉ khoảng 7 - 8 giờ sáng là cành lá ngụy trang khô héo vì nắng lửa chói chang đất Quảng Trị thiêu đốt. Trên bầu trời lúc nào cũng có 2 máy bay OV.10 trinh sát, phát hiện mục tiêu nghi ngờ là gọi máy bay phản lực oanh kích hoặc Hạm đội 7 nã pháo vào là mất xe ngay.
          Tình hình lúc này rất căng thẳng. Nếu không có các biện pháp khắc phục, chỉ trong vòng 2, 3 tháng sẽ mất ít nhất 1/2 số xe tham gia vận chuyển, coi như đơn vị mất sức chiến đấu, không thể hoàn thành nhiệm vụ. Bộ Tư lệnh 559 đã cử đồng chí Lê Xy - Phó chính ủy và đồng chí Nguyễn Đàm - Tham mưu phó xuống Mai Lộc để động viên và chỉ đạo mũi vận chuyển quan trọng ở hướng đông Trường Sơn này. Tư liệu ghi chép của người chỉ huy Tiền phương viết:
          ..."Để gỡ thế bế tắc, tôi đã cùng đồng chí Nguyễn Văn Thanh - anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, chính trị viên Đại đội 5 công binh, một đơn vị thiện chiến, xuống ngầm Phương Thúy (phía hạ lưu sông Ba Lòng) để khảo sát thực địa và nghiên cứu, giải quyết vấn đề vướng mắc: Tại sao Mặt trận B5 không cho đội hình xe vận tải đi qua ngầm này mà chỉ có xe của Mặt trận và các Sư đoàn bộ binh được hoạt động tại đây?
          "Các đồng chí công binh của mặt trận phụ trách ngầm Phương Thúy cho biết: vì lưu lượng các xe qua ngầm rất lớn, đầu ngầm phía nam trơn lầy, lại phải dùng xe xích co kéo nhau, mới lên được, mất rất nhiều thời gian. Mặt khác, trọng điểm này lại bị máy bay và pháo bầy, pháo phản lực ngoài Hạm đội 7 bắn vào, dễ bị ùn tắc.
          "Nắm bắt tình hình, tôi đã cùng đồng chí Thanh đề xuất với đồng chí Phó chính ủy Lê Xy trao đổi với Mặt trận B5: giao ngầm Phương Thúy cho Tiền phương Binh trạm 12 đảm nhiệm. Việc này được Mặt trận B5 và Bộ Tư lệnh 559 nhất trí. Chỉ huy Tiền phương giao cho Đại đội 5 công binh tổ chức nổ mìn, hạ dốc ngầm phía nam và cử một trung đội đào hầm thường trực cách ngầm 2 km để khi gặp sự cố địch đánh phá, ngầm bị hư hỏng là cơ động nhanh, sửa chữa ngay.
          "Đội hình xe nhận hàng từ đêm hôm trước, tối hôm sau cho xuất phát ngay, khoảng 20 giờ trong ngày là vượt hết qua ngầm, lúc đó xe của các đơn vị thuộc Mặt trận cũng vừa tới ngầm. Đội hình xe vận tải đưa hàng vào, giao hàng và quay về căn cứ nhận hàng, tối hôm sau đi giao hàng tiếp.
          "Kết quả: Tiền phương của Binh trạm đã hoàn thành nhiệm vụ,  đáp ứng kịp thời nhu cầu cho các đơn vị chiến đấu ở mặt trận Trị Thiên, đồng thời xe của Tiền phương Binh trạm đưa hàng vào giao cho các đơn vị khép kín, gọn trong một đêm, không phải qua ngầm Thịnh Tất vượt đỉnh động Ông Do đầy nguy hiểm. Chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Bộ Tư lệnh 559 cùng Mặt trận B5 tuyên dương". (Trích "Một việc làm đạt hai nhiệm vụ" - Tư liệu của đại tá Vương Hạnh).
          Ngầm Phương Thúy mà người cán bộ chỉ huy Tiền phương viết ở trên chỉ cách Thành cổ Quảng Trị 7 km. Sân bay Mai Lộc cách Thành cổ 15 km. Cách sân bay không xa là nơi đặt Trạm phẫu thuật, nơi máy bay B.52 rải bom, có lần cháy 5 xe. Trận bom ấy, Vương Hạnh đang ở ngoài hầm, kịp nằm xoài xuống rãnh thoát nước, may không bị thương. Sáng hôm sau, tiếp tục 2 trận bom B.52 nữa. Trạm phẫu thuật Tiền phương ẩn trong khu rừng già chỉ còn mấy trăm mét vuông cây che, ngay cạnh hầm chỉ huy. Lửa bom cháy trùm mảnh rừng già, trùm lên Trạm phẫu. Trong lửa khói, ông trực tiếp chỉ đạo lực lượng quân y băng bó cứu thương, lực lượng tải thương cấp tốc chuyển hết thương binh về thôn Bảng Sơn, huyện Cam Lộ, dưới chân cao điểm miền tây Quảng Trị vừa lúc trận bom thứ 3 dội xuống. Trạm phẫu Tiền phương bảo toàn lực lượng và không để xảy ra trường hợp tổn thất nào. Kết thúc chuyến công tác cơ động sang hướng đông Trường Sơn, cơ quan chỉ huy Tiền phương được Binh trạm 12 biểu dương.
          Cuối năm 1972, Vương Hạnh được điều về Học viện Chính trị học 6 tháng. Tháng 5 năm 1973, ông được bổ nhiệm làm Trưởng ban tổ chức Sư đoàn ô tô vận tải 571, sau đó được bổ nhiệm làm phó chính ủy Trung đoàn 13 -  trung đoàn đầu tiên của Đoàn 559, triển khai nhiệm vụ chiến lược của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, cùng Sư đoàn 471 (thành lập sau) chuẩn bị phục vụ các chiến dịch lớn, tiến tới chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đưa mấy Quân đoàn vào cuộc hành quân thần tốc, giải phóng toàn vẹn Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tại quảng trường thành phố mang tên Bác, ngày 1 tháng  5 năm 1975, tham dự lễ mít tinh mừng miền Nam giải phóng, Vương Hạnh mừng vui đến trào nước mắt. Trong đội ngũ diễu hành hôm ấy, ông nhìn lá Quân kỳ Quyết thắng tung bay trong tiếng quân nhạc hùng tráng dưới màu trời rực rỡ phương Nam, nhớ lại những tháng năm gian khổ hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại đã đi qua; nhớ anh cả Vương Tộ đã ngã xuống trên chiến hào chống Pháp. Chắc hẳn hương hồn anh hôm nay trở về với câu hát "Hẹn ngày mai chiến thắng chớ quên đường về làng xưa" trong ca khúc nổi tiếng "Đoàn quân đi" thắm thiết tình nghĩa quân dân những năm tháng  không thể phai mờ.                                                
          Sau năm 1975, Vương Hạnh làm Phó chính ủy trung đoàn 512, sư đoàn 571. Rồi ông được điều về nhận công tác ở Cục Chính trị Tổng cục Hậu cần đến ngày nghỉ hưu với quân hàm đại tá sau 36 năm tại ngũ, có 10 năm gắn bó với núi rừng Trường Sơn, trên tuyến đường Hồ Chí Minh lịch sử đến ngày toàn thắng.          
                                                  *
                                              *       *
          Tôi chăm chú lắng nghe, chắp nối những lời tâm huyết của vị cựu chiến binh cao tuổi với niềm kính trọng của thế hệ đàn em.Vương Văn Kiểm còn muốn nghe anh mình kể chuyện ông cùng đồng đội phải tự tay chôn cất hai lần những liệt sĩ bị bom giặc vùi xuống đào lên ở nghĩa trang Binh trạm tại xã Hóa Thanh, Quảng Bình. Đã hơn bốn mươi năm qua, đến hôm nay, đại tá Vương Hạnh còn nói lời xin lỗi các liệt sĩ ấy, còn gửi lời cảm ơn cán bộ, nhân dân xã Hóa Thanh cùng các đồng chí nữ thanh niên xung phong Thúy Nga, Bích Ngọc, Thanh Thanh...quê Ninh Bình vừa chuyển sang quân ngũ, đã đến giúp ông cùng anh em cơ quan với hơn một ngày làm việc nơi mùi xú uế nồng nặc, tranh thủ nhặt nhạnh thịt xương đồng đội lẫn lộn, vung vãi quanh nghĩa trang. Những người xót thương các liệt sĩ, không nề hà công việc khó, cùng chung tay gom góp hình hài những người đã khuất, gói ghém, khâm liệm, mai táng, rồi đứng khóc dưới trời Quảng Bình, truy điệu các anh chị đã hy sinh, thêm một lần đau lòng nữa.
          Chúng tôi mời ông tạm nghỉ, cùng ra sân nhà dạo chơi một lát khi bà về chợ, cô cháu gái đi học về ghé sang thăm ông bà. Vương Văn Kiểm kể với tôi những ngày anh mình  đang ở chiến trường, một mình chị dâu đảm đang việc nhà, việc hợp tác xã, thay chồng nuôi dạy các cháu khôn lớn. Bà còn tranh thủ từ lúc tờ mờ sáng, đầu đội, vai mang cau, na, chè, chuối đi chợ quê, có ngày qua cả đò sông Ninh, sông Đáy, đến chợ Năm Dân bên Kim Sơn Ninh Bình ngồi bán, lấy tiền thêm cặp vào khoản phụ cấp anh gửi về cho các cháu ăn học. Đến nay, người con cả của ông bà là hiệu trưởng Trường trung học cơ sở xã Hải Chính cùng vợ là giáo viên dạy học ở trường. Họ có cháu trai đầu, tài năng trẻ trường Đại học Bách khoa Hà Nội, được chọn đi đào tạo ở nước ngoài. Người con gái thứ hai của ông bà, lấy chồng cùng xã. Người con trai thứ ba là bác sĩ chuyên khoa cấp II cùng vợ là bác sĩ chuyên khoa cấp I  hiện đang công tác ở Bộ Quốc phòng. Người con trai út đi Nga về, làm doanh nhân ở Hà Nội...Anh Kiểm còn cho tôi hay, ông em út Vương Văn Việt của các anh cũng là nhà giáo, trong nhà có 3 người dạy học. Hai người con trai của Vương Văn Việt, người là giám đốc công ty Xăng dầu quân đội đóng ở Thanh Hóa, người tốt nghiệp Đại học Kiến trúc công tác tại Hà Nội. Xem ra, gia đình họ Vương của các anh, con cháu đều chuyên cần học hành công tác, biết giữ gìn nền nếp gia phong.
          Trở lại câu chuyện chưa kết thúc, Vương Văn Kiểm lại nhanh nhảu hỏi anh mình về việc nhà thơ Phạm Tiến Duật được kết nạp Đảng tại mặt trận nào? Ông cựu cán bộ Đảng ở Binh trạm 12 cho biết:
          - Chi bộ chúng tôi tổ chức kết nạp nhà thơ Phạm Tiến Duật vào cuối tháng 9 năm 1967, tại Binh trạm bộ đóng ở xã Hóa Tiến, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình...

Nhà thơ Phạm Tiến Duật
thời là lính Trường Sơn.
          Ngày ấy, cùng làm hồ sơ gia nhập Đảng với Phạm Tiến Duật, ở Binh trạm 12 còn có một họa sĩ, con một nghệ nhân chạm khắc tượng ở Hà Nội. Tốt nghiệp trường Mỹ thuật Thủ đô,  anh tình nguyện vào chiến trường miền Nam chiến đấu, tham gia lực lượng Văn hóa Tuyên truyền cùng nhà thơ Phạm Tiến Duật. Vương Hạnh đã hai lần ra Bắc thẩm tra, xác minh lý lịch. Với đồng chí họa sĩ này, công an chưa thể chứng nhận nhân thân vì một người trong gia đình anh đi nước ngoài mấy tháng, không rõ làm việc gì. Tiếc quá. Còn với nhà thơ Phạm Tiến Duật mọi việc thuận lợi. Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, ra trường, Phạm Tiến Duật xung  phong nhập ngũ tháng 6 năm 1964. Anh trải qua mấy tháng là pháo thủ pháo cao xạ tiểu đoàn 24, trực thuộc Quân khu Tây Bắc. Sau đó anh chuyển về làm giáo viên văn hóa Trung đoàn ô tô 225, Tổng cục Hậu cần. Khi Binh trạm 12 nơi tuyến lửa Quảng Bình cần bổ sung cán bộ tuyên truyền về công tác, năm 1966, "Phạm Tiến Duật là người đầu tiên xung phong vào Binh trạm". Ban công tác Chính trị rất mừng vì có thêm một nhà thơ trẻ tài năng tham gia đảm nhiệm hoạt động văn hóa, tuyên truyền. Anh vui tính, hoạt bát, gần gũi mọi người. Có mặt ở Trường Sơn, đi đến đâu Phạm Tiến Duật cũng được mọi người chào đón. Thơ anh mở đầu một thi pháp mới, tươi rói tình yêu cuộc đời, giàu có chất liệu hiện thực chiến trường và phẩm chất trữ tình thế hệ thơ chống Mỹ. Thơ Phạm Tiến Duật có sức truyền cảm, làm rạng danh bộ đội, thanh niên xung phong Trường Sơn, dạt dào tình yêu nhân dân đất nước. Thơ anh viết tại mặt trận, nhiều bài được bộ đội chuyền tay đọc thuộc, cánh lái xe nhớ, thanh niên xung phong yêu thích chép vào sổ tay, cán bộ chỉ huy yêu quý, dõi theo anh trên mỗi chặng đường.
          Trong căn phòng nhà hầm Binh trạm bộ, buổi lễ kết nạp một nhà thơ trẻ vào Đảng diễn ra trang trọng. Nơi  tuyến lửa, có cờ Đảng, ảnh Bác, có cả hoa rừng đại ngàn Trường Sơn xòe cánh thắm trên bàn. Bên ngoài, đồng chí trực ban đang làm nhiệm vụ cảnh giới. Bên ngoài có cả "Nước khe cạn bướm bay lèn đá" với cả những "Bông cúc đắng quên lòng mình đang đắng/ Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay". Còn nữa ở bên ngoài, trên đường nghìn dặm Trường Sơn, những "Tiểu đội xe không kính" với các chiến sĩ lái xe quả cảm "Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến/ Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo"; có cả những cô bộ đội lái xe hiên ngang mà nền nã "Giặc nhằm bắn, bốn bề lửa cháy/ Cái buồng lái là buồng con gái/ Vẫn cành hoa mềm mại cài ngang". Và xa xa nữa, ríu rít bao nhiêu ánh mắt "Những đội làm đường hành quân trong đêm/ Nào cuốc, nào choòng, xoong nồi xủng xoảng/ Rực rỡ mặt đất bình minh/ Hấp hối chân trời pháo sáng"...
          Nhà thơ xúc động, anh phát biểu gọn gàng lời hứa của một trí thức trẻ giàu nhiệt huyết, lời giãi bày một nhà thơ mặc áo lính có lý tưởng sống cao đẹp. Chiều hôm ấy, một cuộc liên hoan hoan nhỏ được tổ chức. Đồng chí nữ cán bộ văn thư đứng lên hát tặng nhà thơ bài hát "Bước chân trên đỉnh Trường Sơn". Đáp lại, nhà thơ của chúng ta đã đọc tặng mọi người bài thơ mới viết "Lửa đèn": "Anh cùng em sang bên kia cầu/ Nơi có những miền quê yên ả/ Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá"...
          Là người làm công tác chính trị ở chiến trường, Vương Hạnh tâm đắc những dòng thơ dự cảm của nhà thơ của Phạm Tiến Duật, trong "Lửa đèn: "Bóng đêm ở Việt Nam/ Là khoảng tối giữa hai màn kịch/ Chứa bao điều thay đổi lớn lao"...
          "Ngày mai, ngày mai hoàn toàn chiến thắng/ Anh dắt tay em trời chi chít sao giăng/"Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm"/ Ta thắp đèn lồng, thắp cả đèn sao năm cánh/ Ta dẫn nhau đến ngôi nhà đèn hoa lấp lánh/ Nơi ấy là phòng cưới chúng mình/ Ta sẽ làm cây đèn kéo quân thật đẹp/ Mang hình những người những cảnh hôm nay/ Cho những cuộc hành quân nào còn trong bóng tối/ Sẽ hiện muôn đời trên mặt ngọn đèn xoay".
          Thơ Phạm Tiến Duật được trao giải nhất báo Văn nghệ trong cuộc thi năm 1969-1970. Thơ anh được nhận giải thưởng Nhà nước lúc sinh thời. Năm 2013, nhà thơ Phạm Tiến Duật được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cao quý. Anh là nhà thơ xuất sắc của "nghìn dặm Trường Sơn" đất nước.                              
          Tôi lặng ngắm Vương Hạnh trong nếp nhà thanh bạch chốn quê nhà. Tuổi cao, ông vẫn góp công sức vào những hoạt động xã hội của Hội Cựu chiến binh, Hội Truyền thống Trường Sơn. Trên tường, lồng trong khung kính là bài thơ của Hội Truyền thống Trường Sơn huyện Hải Hậu mừng ông lên lão tám mươi: "Nghìn dặm Trường Sơn nối nhịp cầu/ Nghĩa tình đồng đội mãi bền lâu"...
          Tôi nhớ chuyện một vị tướng thời chống Mỹ ở mặt trận miền Tây, mang theo cả bộ tiểu thuyết vĩ đại "Chiến tranh và hòa bình" của đại văn hào Nga L.Tônxtôi vào chiến dịch, đọc và suy ngẫm trước giờ ra trận.    
          Tôi nhớ đại ý một đoạn văn trong lời giới thiệu bộ sách Tổng tập tác phẩm các nhà văn Quân đội ấn hành năm 2000: Quân đội ta đánh thắng kẻ thù xâm lược không chỉ bằng sức mạnh của vũ khí tiến công mà còn bằng sức mạnh của những tác phẩm văn học nghệ thuật do lực lượng đông đảo các nhà văn, các nghệ sĩ xung trận sáng tạo nên. Nhà thơ Phạm Tiến Duật là cây bút tài năng trong đội ngũ vinh quang ấy. Bên anh, ngày ấy, còn có những người lặng lẽ vun đắp, khích lệ... Đại tá Vương Hạnh, cựu cán bộ tổ chức Binh trạm 12 đang nghỉ hưu ở quê nhà Hải Hậu, một người đồng chí -  người tri âm thơ buổi ấy còn đây.

 
Nam Định, tháng 10 – 2014
 
Phạm Trọng Thanh
 
 
* Bài viết đạt giải Khuyến khích “Cuộc vận động sáng tác về đề tài Giao thông vận tải” do Bộ Giao thông Vận tải và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức (4/2014 – 4/2015).
Tổng số điểm của bài viết là: 61 trong 13 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn